Đọc đoạn tư liệu sau đây: “Sau hai tháng làm việc, qua các cuộc đấu…

|
🎓
🔥 KHO THƯ VIỆN ĐỀ THI VIP Miễn phí & VIP

Tham khảo Kho Khóa Học & Đề Thi Chọn Lọc

Luyện tập đề thi chuẩn, khóa học chất lượng cao và tài liệu độc quyền từ các Giáo viên uy tín!

Khám phá Kho Khóa Học 🚀
0

Kết quả bài làm

🎯 Muốn luyện thêm nhiều đề khác?
📚 Khám phá khóa học & bài lẻ →
Trang chủ
Đã làm: 0/0 câu
Chưa làm
Đã làm
Nội dung bài đọc
Câu hỏi trắc nghiệm
Câu 1 Đọc đoạn tư liệu sau đây: “Sau hai tháng làm việc, qua các cuộc đấu tranh gay gắt giữa nhiều ý kiến và khuynh hướng khác nhau, hiến chương Liên Hợp Quốc được đại biểu của 50 nước ký kết ngày 26-6-1945. Hiến chương bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 24-10-1945 (ngày Quốc hội 5 cường quốc Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc thông qua Hiến chương Liên Hợp Quốc) và ngày này cũng được coi là ngày Liên Hợp Quốc chính thức được thành lập”. (Nguyễn Anh Thái (chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2015, tr.226)
a) Ngày 24-10-1945, bản Hiến chương Liên Hợp Quốc chính thức có hiệu lực, đánh dấu sự thành lập của Liên Hợp Quốc.
b) Hiến chương Liên Hợp Quốc được ký kết ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc mà không gặp phải bất kỳ sự phản đối hay tranh luận nào từ các đại biểu tham gia.
c) Sự thông qua và có hiệu lực của Hiến chương Liên Hợp Quốc đã thiết lập một nền tảng pháp lý cho việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới.
d) Sự ra đời của Liên Hợp Quốc đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc xây dựng hệ thống an ninh tập thể toàn cầu, nhằm ngăn chặn xung đột và bảo vệ hòa bình quốc tế.
Câu 2 Đọc đoạn tư liệu sau: “Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định mục đích cao nhất của Liên Hợp Quốc là nhằm duy trì hòa bình, an ninh thế giới bằng cách áp dụng những biện pháp có hiệu lực để đề phòng và thủ tiêu sự đe dọa đối với hòa bình, để trừng trị mọi hành động xâm lược và phá hoại hòa bình. Ngoài ra, Liên Hợp Quốc còn nhằm mục đích thức đẩy sự phát triển quan hệ hữu nghị giữa các nước trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng giữa các dân tộc và nguyên tắc dân tộc tự quyết”. (Nguyễn Anh Thái (chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2015, tr.227)
a) Mục đích cao nhất của Liên Hợp Quốc là duy trì hòa bình và an ninh thế giới.
b) Liên Hợp Quốc chỉ tập trung vào các biện pháp trừng phạt mà không quan tâm đến việc thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia.
c) Liên Hợp Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế, đảm bảo sự tôn trọng quyền bình đẳng giữa các dân tộc và nguyên tắc dân tộc tự quyết.
d) Liên Hợp Quốc không chỉ ngăn chặn xung đột và duy trì hòa bình, mà còn góp phần tạo ra một trật tự thế giới công bằng và bền vững thông qua việc thúc đẩy các nguyên tắc quốc tế như bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc.
Câu 3 Đọc đoạn tư liệu sau đây: [Năm 1960] “Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua bản Tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân, trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa. Đó là một sự kiện chính trị quan trọng. Như thế, Tuyên ngôn đã khẳng định các nước thực dân đã vi phạm nguyên tắc quan trọng nhất của luật pháp quốc tế; khẳng định rõ ràng cơ sở pháp lí quốc tế của cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc bị áp bức”. (Nguyễn Quốc Hùng, Nguyễn Hồng Quân, Liên hợp quốc và Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008, tr,46)
a) Liên hợp quốc đã đưa ra văn bản quan trọng nhằm thủ tiêu hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân trên thế giới.
b) Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc chỉ là một văn bản tuyên truyền và không có giá trị pháp lý trong việc khẳng định quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa.
c) Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc năm 1960 đã tạo ra cơ sở pháp lý quốc tế mạnh mẽ, hỗ trợ các phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới trong cuộc đấu tranh giành độc lập.
d) Việc thông qua Tuyên ngôn về thủ tiêu chủ nghĩa thực dân đánh dấu một bước ngoặt trong việc xây dựng một trật tự quốc tế mới, nơi mà quyền tự quyết và độc lập của các dân tộc bị áp bức được công nhận và bảo vệ trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Câu 4 Đọc đoạn tư liệu sau đây: “Bất kỳ thành viên nào của Liên hợp quốc không phải là Ủy viên Hội đồng bảo an, hay bất kỳ quốc gia nào không phải là thành viên của Liên hợp quốc, nếu là đương sự trong cuộc tranh chấp mà Hội đồng bảo an xem xét, cũng được mời tham dự, nhưng không có quyền biểu quyết trong những cuộc thảo luận về các cuộc tranh chấp ấy. Hội đồng bảo an tạo điều kiện thuận lợi, mà Hội đồng xét thấy là hợp lý, cho những quốc gia không là thành viên của Liên hợp quốc, trong việc tham gia các cuộc thảo luận nói trên”. (Trích: Điều 32, Hiến chương Liên hợp quốc, ngày 24-10-1945)
a) Các quốc gia không phải là Ủy viên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc hoặc không phải là thành viên của Liên Hợp Quốc có thể được mời tham dự các cuộc thảo luận về tranh chấp mà Hội đồng Bảo an xem xét.
b) Quốc gia không phải là thành viên của Liên Hợp Quốc khi tham dự các cuộc thảo luận tại Hội đồng Bảo an có quyền biểu quyết như các thành viên khác.
c) Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc tạo điều kiện cho các quốc gia không là thành viên của Liên Hợp Quốc tham gia vào các cuộc thảo luận, giúp họ có tiếng nói trong các vấn đề tranh chấp quốc tế.
d) Việc cho phép các quốc gia không phải là thành viên của Liên Hợp Quốc tham gia thảo luận mà không có quyền biểu quyết thể hiện tính bao trùm của Hội đồng Bảo an trong việc xử lý tranh chấp quốc tế, đồng thời bảo vệ sự công bằng và duy trì trật tự quốc tế dựa trên sự đồng thuận giữa các quốc gia.