✍️ Bài tập - Tiêu bản 1: TĂNG SẢN CỤC TUYẾN TIỀN LIỆT Tiê

Câu 1: Tiêu bản 1: TĂNG SẢN CỤC TUYẾN TIỀN LIỆT Tiêu bản TĂNG SẢN CỤC TUYẾN TIỀN LIỆT minh họa cho tổn thương tăng sản. Tăng sản là một đáp ứng thích nghi. Tăng sản bệnh lý thường xảy ra do sự kích thích quá mức của một hormôn đặc hiệu. Tăng sản tuyến tiền liệt thường gặp ở người nam từ sau 50 tuổi, xuất độ tăng dần theo tuổi tác. Nguyên nhân tăng sản chưa rõ, nhưng chắc chắn có vai trò của nội tiết tố nam. Người ta thấy có sự tích tụ dihydrotestosterone trong tuyến tiền liệt; chất này gắn lên thụ thể tương ứng trong nhân tế bào tuyến và kích thích tế bào tăng sản. Tăng sản diễn ra không đồng đều trong tuyến tiền liệt, chỉ có một số nhóm tế bào tăng sản, tạo thành các cục tăng sản; do đó người ta gọi là tăng sản cục tuyến tiền liệt. Tăng sản tuyến tiền liệt lành tính thường hay xảy ra ở vùng chuyển tiếp, các cục tăng sản chèn ép niệu đạo, gây triệu chứng tiểu khó hoặc bí tiểu. Đại thể: Tuyến tiền liệt tăng kích thước và trọng lượng, khoảng 60-100 gram; mặt cắt có nhiều cục tăng sản, tập trung ở vùng trung tâm, gây chèn ép niệu đạo. Các cục có kích thước to nhỏ khác nhau, mật độ mềm hoặc chắc, có màu vàng xám, mặt cắt phồng (Hình 1). Hình 1: Các cục tăng sản có mật độ mềm hoặc chắc, mặt cắt phồng, có màu vàng. Niệu đạo bị chèn ép. Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 2: Tuyến ống – túi tăng sản: - Các túi tuyến kích thước nhỏ xếp san sát nhau / ống tuyến tăng sản có các nhú thò vào lòng ống. - Các tuyến ống – túi tăng sản, giãn rộng
Câu 3: Mô đệm sợi – cơ trơn tăng sản.
Câu 4: Thể amylacea trong lòng tuyến ống - túi tăng sản. Mẫu mô là một cục tăng sản của tuyến tiền liệt. Bắt đầu với vật kính 4X quét nhanh qua tiêu bản, thấy cục tăng sản được tạo bởi các tuyến ống túi tăng sản, bao xung quanh các tuyến này là mô đệm sợi cơ trơn tăng sản (hình 2,3). Các tuyến ống túi tăng sản có thể bị giãn rộng thành bọc (hình 2). Tuyến tiền liệt là tuyến ống – túi, ống phân nhánh ra thành một chùm túi tuyến tận cùng. Các tuyến ống - túi tăng sản có thể biểu hiện dưới hình ảnh các túi tuyến tăng số lượng, có hình tròn xếp san sát nhau (hình 3), hoặc các tuyến ống – túi tăng sản có nhiều nhú thò vào lòng ống (nhú có thể có hoặc không có trục liên kết mạch máu) (hình 3,4). Nhiều tuyến ống – túi tăng sản bị giãn rộng, một số vẫn còn giữ được kiểu cấu trúc “ống – túi” với một chùm túi tuyến thông nối nhau do cùng đổ về chung một ống (hình 6). Quan sát một tuyến tăng sản ở độ phóng đại lớn (vật kính 40X), thấy biểu mô lót tuyến tăng sản có hai lớp tế bào, tế bào đáy hình vuông hoặc bị dẹt lại nằm bên dưới và tế bào chế tiết hình trụ có bào tương sáng nằm ở trên hướng về lòng ống (hình 5). Biểu mô có hai lớp tế bào đáy và tế bào chế tiết là đặc điểm giống tuyến bình thường, cho biết tổn thương là lành tính. Biểu mô tăng sản có thể chồng chất tạo thành nhú không có trục liên kết mạch máu (hình 5), hoặc do tuyến ống – túi tăng phân nhánh tạo nhiều túi hơn nên có thêm nhiều nhú có trục liên kết mạch máu thò vào lòng tuyến (hình 5). Mô đệm sợi – cơ trơn tăng sản quanh các tuyến ống – túi tăng sản (hình 2,3,4,6). Mô đệm có 2 thành phần: các nguyên bào sợi nằm trên nền sợi collagen và các tế bào cơ trơn (hình 5). Hình 2: Cục tăng sản: 1- Tuyến ống – túi tăng sản; 2- Tuyến ống – túi tăng sản, giãn rộng; 3- Mô đệm sợi – cơ trơn tăng sản. Hình 3: 1- Các túi tuyến tăng sản, hình tròn, xếp san sát nhau; 2- Tuyến ống – túi tăng sản có các nhú thò vào lòng ống; 3- Mô đệm sợi cơ trơn tăng sản; 4- Túi tuyến tăng sản có hình tròn; 5- Thể amylacea là chất tiết bị cô đặc nằm trong lòng túi tuyến; 6- Tế bào đáy hình vuông; 7- Tế bào trụ tiết nhầy. Hình 4: 1- Tuyến ống- túi tăng sản; 2- Biểu mô tăng sinh tạo nhú có trục liên kết mạch máu; 3- Biểu mô tăng sinh tạo nhú không có trục liên kết máu; 4- Mô đệm sợi – cơ trơn tăng sản. Hình 5: Các tuyến ống – túi tăng sản: 1- Biểu mô tăng sinh tạo nhú có trục liên kết mạch máu; 2- Biểu mô tăng sinh tạo nhú không có trục liên kết mạch máu; 3- Tế bào chế tiết hình trụ, bào tương sáng; 4- Tế bào đáy. Tăng sản mô đệm sợi – cơ trơn: 5- Nguyên bào sợi; 6- Tế bào cơ trơn. Hình 6: 1- Tuyến ống – túi tăng sản, giãn rộng; 2- Mô đệm sợi – cơ trơn tăng sản.
Câu 5: Tiêu bản 2: HẠCH NHIỄM CARBON HẠCH NHIỄM CARBON là tiêu bản minh họa cho tổn thương ứ đọng nội bào. Chất ứ đọng là các hạt bụi carbon (bụi than), nằm trong các đại thực bào có nguồn gốc từ các phế nang của phổi. Những người sống trong các đô thị bị ô nhiễm bởi khói xe và những người hút thuốc lá thường xuyên hít khói chứa đầy các hạt bụi than vào phổi. Bụi than đi vào đường hô hấp, những hạt có kích thước lớn sẽ được giữ lại ở đoạn trên của đường dẫn khí, sau đó được hệ thống chất nhầy – lông chuyển đẩy ngược ra ngoài; những hạt có kích thước nhỏ hơn 2 µm có thể vào đến tận các phế nang. Đại thực bào phế nang ăn lấy các hạt bụi than; do bụi than không độc, các đại thực bào có thể bị ứ đọng đầy các hạt bụi trong bào tương, nên còn được gọi là tế bào bụi. Đại thực bào từ phế nang di chuyển ngược lên tiểu phế quản hô hấp, xuyên thành tiểu phế quản, chui vào các mạch bạch huyết để đi đến các hạch limphô quanh phế quản hoặc rốn phổi, hoặc đại thực bào có thể đi xa hơn theo dòng bạch huyết để đến các hạch limphô ở vùng cổ. Hạch limphô có chứa nhiều đại thực bào ứ đọng carbon thường tăng kích thước và có màu đen như hắc ín, gọi là hạch nhiễm carbon. Đại thể: Hạch nhiễm carbon có thể to hơn bình thường, xẻ đôi hạch thấy mặt cắt có màu đen như hắc ín (hình 1). Hình 1: Hạch nhiễm carbon thường to hơn bình thường, mặt cắt hạch có màu đen như hắc ín. Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 6: Xoang bạch huyết tăng sản, giãn rộng, chứa đầy mô bào và đại thực bào.
Câu 7: Mô limphô vùng vỏ và vùng cận vỏ bị chèn ép. Lát cắt trên tiêu bản có 4 mẫu mô hạch limphô. Do mẫu chưa được định hướng tốt khi cắt lọc và vùi mô, các mẫu hạch đều không có hình dạng như hạt đậu đặc trưng. Bắt đầu với vật kính 4X, quét nhanh tiêu bản, có thể nhìn thấy mỗi một mẫu hạch đều có vỏ bao sợi bao quanh, phía trong vỏ bao sợi là nhu mô hạch, gồm mô limphô và các xoang bạch huyết (Hình 2). Cấu trúc bình thường của hạch sẽ bao gồm vùng vỏ, vùng cận vỏ và vùng tủy; các xoang bạch huyết trong hạch gồm xoang dưới vỏ (nằm ngay dưới vỏ bao sợi của hạch), xoang quanh nang (chạy chen giữa các nang limphô vùng vỏ) và xoang tủy (chạy chen giữa các dây limphô vùng tủy). Một lát cắt mô hạch định hướng không tốt vẫn có thể thấy được các nang limphô thứ cấp vùng vỏ và mô limphô của vùng cận vỏ và các xoang bạch huyết (Hình 2). Nhưng mẫu hạch này không còn giữ cấu trúc bình thường. Quan sát ở độ phóng đại nhỏ, nhìn thấy rõ có sự giãn rộng của các xoang bạch huyết, chèn ép các phần mô limphô của hạch (Hình 3,4). Trong xoang chứa đầy các mô bào tăng sản (Hình 2,3,4,5). Đây là hình ảnh của phản ứng tăng sản xoang ở hạch. Phản ứng này thường gặp ở các hạch dẫn lưu từ các khối u ác tính, tế bào u chưa di căn đến hạch nhưng kháng nguyên của nó có thể kích thích gây tăng sản các xoang bạch huyết. Tất cả các xoang dưới vỏ, xoang quanh nang và xoang tủy đều giãn rộng và ứ đầy mô bào tăng sản. Đây là hạch cổ của một bệnh nhân có u ác tính ở tuyến giáp, điều này giải thích vì sao có phản ứng tăng sản xoang trong mô hạch. Nói về mô bào: mô bào trong xoang bạch huyết có nguồn gốc từ các mono bào trong máu; đây là các tế bào thuộc mô hạch, định cư trong xoang, có chức năng thực bào các mảnh vụn và trình diện kháng nguyên cho các tế bào limphô. Mô bào là tế bào có kích thước lớn, nhiều bào tương màu hồng, giới hạn bào tương không rõ, nhân tròn hay bầu dục, hạch nhân nhỏ (Hình 5). Hình 2: Tiêu bản có 4 mẫu hạch limphô, chưa được định hướng tốt khi cắt lọc và vùi mô nên không có hình hạt đậu đặc trưng. 1- Vỏ bao sợi của hạch; 2- Xoang dưới vỏ nằm ngày dưới vỏ bao sợi, có các mô bào và đại thực bào ứ đọng carbon (màu đen); 3- Nang limphô thứ cấp ở vùng vỏ; 4- Mô limphô vùng cận vỏ; 5- Xoang quanh nang Hạch cổ cũng là nơi có thể đi đến được của các đại thực bào phế nang. Đại thực bào theo mạch bạch huyết để vào hạch, đến xoang dưới vỏ, xoang quanh nang và xoang tủy. Ở vật kính nhỏ, nhìn thấy đại thực bào ứ đọng carbon nằm trong các xoang dưới hình ảnh những đốm đậm màu đen (Hình 2,3,4). Ở vật kính 40X, thấy đại thực bào ứ đọng carbon là tế bào có kích thước lớn, bào tương chứa đầy các hạt bụi than màu đen, nhân hình bầu dục, hạch nhân nhỏ (Hình 6). Như vậy những hạch cổ trong trường hợp này có sự kết hợp giữa một tăng sản xoang và tình trạng có nhiều đại thực bào ứ đọng carbon đi đến hạch, tạo nên hình ảnh ứ đầy các mô bào và nhiều đại thực bào ứ đọng carbon trong các xoang bạch huyết (Hình 3,4,5,6). Hình 3: Xoang bạch huyết giãn rộng, ứ đầy mô bào tăng sản (*): 1- Vỏ bao sợi của hạch; 2- Xoang dưới vỏ; 3- Xoang quanh nang có mô bào và đại thực bào ứ đọng carbon; 4- Xoang tủy (nằm cạnh mạch máu lớn vùng rốn hạch; 5- Các đại thực bào ứ đọng carbon trong xoang quanh nang; 6- Mô limphô vùng vỏ và cận vỏ bị chèn ép; 7- Mạch máu ở rốn hạch. Hình 4: 1- Vỏ bao sợi của hạch; 2- Nang limphô thứ cấp ở vùng vỏ hạch; 3- Mô limphô vùng cận vỏ; 4- Xoang dưới vỏ; 5- Xoang quanh nang có các mô bào và các đại thực bào ứ đọng carbon (các đốm màu đen). * * * * Hình 5: 1- Các mô bào tăng sản (tế bào kích thước lớn, nhiều bào tương màu hồng, giới hạn bào tương không rõ, nhân tròn hay bầu dục, hạch nhân nhỏ) nằm trong các xoang bạch huyết giãn rộng; 2- Tương bào nằm trong mô limphô. Hình 6: 1- Các đại thực bào ứ đọng carbon nằm trong các xoang bạch huyết; 2- Tương bào nằm trong mô limphô.
Câu 8: Tiêu bản 3: CHUYỂN SẢN GAI CỔ TỬ CUNG Tiêu bản Chuyển sản gai cổ tử cung minh họa cho tổn thương chuyển sản. Cổ tử cung gồm cổ ngoài nhô vào trong âm đạo, được phủ trên bề mặt bởi biểu mô lát tầng không sừng hóa (còn được gọi là biểu mô gai) và cổ trong hay còn gọi là kênh cổ tử cung, nối cổ ngoài với buồng tử cung, được phủ bởi biểu mô tuyến trụ đơn tiết nhầy. Nơi tiếp giáp giữa biểu mô lát tầng của cổ ngoài và biểu mô tuyến trụ đơn tiết nhầy của cổ trong được gọi là đường tiếp hợp gai – trụ, đường này sẽ nằm ngay ở vị trí lỗ ngoài của cổ tử cung. Bắt đầu từ sau dậy thì, cổ tử cung phát triển, khiến tuyến cổ trong từ kênh cổ tử cung bị lộn ra vị trí của cổ ngoài – gọi là lộ tuyến cổ tử cung - đẩy đường tiếp hợp gai – trụ ra xa khỏi vị trị lỗ ngoài cổ tử cung (Hình
Câu 9: Lộ tuyến cũng có thể xảy ra ở phụ nữ sau khi sanh nở. Trong môi trường acid của âm đạo, biểu mô vùng lộ tuyến buộc phải thích nghi bằng cách Chuyển sản gai. Chuyển sản gai là một quá trình sinh lý bình thường ở cổ tử cung, là sự thay thế biểu mô vùng lộ tuyến bằng biểu mô gai (biểu mô lát tầng không sừng hóa). Kết thúc quá trình chuyển sản gai, một đường tiếp hợp gai – trụ mới được hình thành tại vị trí lỗ ngoài cổ tử cung; vùng lộ tuyến lúc này đã được thay thế bằng biểu mô chuyển sản gai và được gọi là vùng chuyển dạng. Vùng chuyển dạng là vùng biểu mô nằm giữa đường tiếp hợp gai trụ cũ và đường tiếp hợp gai trụ mới (Hình 1). Các tổn thương tiền ung và ung thư xâm nhập ở cổ tử cung thường hay xảy ra ở vùng chuyển dạng này. Hình 1: Chuyển sản gai cổ tử cung: Cổ tử cung ở trẻ gái chưa có vùng lộ tuyến (A); Lộ tuyến làm đường tiếp hợp gai – trụ bị đẩy xa ra khỏi lỗ ngoài cổ tử cung. Vùng cổ tử cung lộ tuyến có màu đỏ tươi (B); Hoạt động chuyển sản gai kết cục đã tạo ra một đường tiếp hợp gai – trụ mới tiến đến lỗ ngoài cổ tử cung. Vùng chuyển dạng là vùng biểu mô chuyển sản gai nằm giữa đường tiếp hợp gai - trụ cũ và mới (C). Đại thể: Vùng lộ tuyến cổ trong cổ tử cung có màu đỏ tươi, chứa những vùng chuyển sản gai có màu hồng lợt tương tự biểu mô cổ ngoài cổ tử cung (Hình 2). Hình 2: Ảnh soi cổ tử cung: vùng lộ tuyến cổ tử cung có màu đỏ tươi, chứa những vùng chuyển sản gai có màu hồng lợt tương tự biểu mô cổ ngoài cổ tử cung. Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 10: Biểu mô chuyển sản gai chưa trưởng thành; biểu mô chuyển sản gai trưởng thành.
Câu 11: Biểu mô tuyến trụ đơn tiết nhầy của vùng lộ tuyến. Nhắc lại mô học bình thường của cổ tử cung (Hình 3): biểu mô của cổ ngoài cổ tử cung là biểu mô lát tầng không sừng hóa, bên dưới biểu mô là mô đệm sợi có thêm một ít sợi chun và sợi cơ trơn, giàu mạch máu; biểu mô của cổ trong cổ tử cung là biểu mô tuyến trụ đơn tiết nhầy, gấp nếp vào trong mô đệm tạo thành các khe tuyến. Hình 3: 1- Biểu mô lát tầng không sừng hóa của niêm mạc cổ ngoài cổ tử cung: lớp đáy; các lớp tế bào gai trung gian có hình đa diện, nhân tròn nằm giữa tế bào, tế bào giàu glycogen nên có bào tương sáng, càng lên cao tế bào càng dẹt dần; lớp bề mặt có tế bào dẹt hẳn, nhân nhỏ đậm màu, trục tế bào song song với màng đáy; 2- Mô đệm sợi giàu mạch máu; 3- Biểu mô tuyến trụ đơn tiết nhầy của niêm mạc cổ trong cổ tử cung: tế bào hình trụ, nhân lệch sát đáy, không bào tiết nhầy hướng về cực đỉnh; 4- Biểu mô trụ đơn tiết nhầy gấp nếp vào mô đệm tạo thành các khe tuyến. Tiêu bản là mẫu bệnh phẩm phẫu thuật, gồm có cổ ngoài cổ tử cung, vùng lộ tuyến - chuyển sản gai và vùng tuyến cổ trong cổ tử cung (Hình 4). Trong hình 4, biểu mô của cổ ngoài cổ tử cung nguyên thủy nằm phía bên dưới của quang trường, đây là một biểu mô lát tầng không sừng hóa, trong mô đệm bên dưới biểu mô chỉ thấy mô sợi và nhiều mạch máu; Vùng lộ tuyến - chuyển sản gai trải dài từ vùng bắt đầu có tuyến tiết nhầy trong mô đệm cho đến vùng biểu mô tuyến trụ đơn tiết nhầy của cổ trong cổ tử cung. Quá trình chuyển sản gai diễn ra không đồng đều trên vùng lộ tuyến. Bắt đầu với vật kính 4X và quan sát dọc theo lớp biểu mô phủ bề mặt ở vùng lộ tuyến – chuyển sản gai, thấy có những đoạn biểu mô tuyến trụ đơn tiết nhầy chưa chuyển sản, chỉ gồm 1 lớp tế bào trụ, không nhìn thấy được các tế bào dự trữ; có đoạn bắt đầu có sự tăng sản các tế bào dự trữ tạo thành một hàng tế bào nằm bên dưới lớp tế bào trụ tiết nhầy (Hình 5); có đoạn lớp tế bào trụ đã bị đẩy lên cao hơn, bên dưới là các tế bào gai có hình đa diện nhiều bào tương màu hồng – đây chính là biểu mô chuyển sản gai chưa trưởng thành (Hình 5); có đoạn lớp tế bào trụ đã bị bong hết, biểu mô chuyển sản gai có các tế bào giàu glycogen có bào tương sáng, giống hệt biểu mô cổ ngoài cổ tử cung bình thường, được gọi là biểu mô chuyển sản gai trưởng thành (Hình 5). Chỉ có thể phân biệt biểu mô chuyển sản gai trưởng thành và biểu mô của cổ ngoài cổ tử cung nguyên thủy dựa vào sự hiện diện của tuyến cổ trong nằm trong mô đệm bên dưới lớp biểu mô chuyển sản gai. Hiện tượng chuyển sản gai xảy ở biểu mô tuyến trụ đơn tiết nhầy phủ trên bề mặt, đồng thời cũng xảy ra trong các khe tuyến nằm trong mô đệm (Hình 6). Hình 4: 1- Biểu mô lát tầng không sừng hóa của niêm mạc cổ ngoài cổ tử cung nguyên thủy. Trong mô đệm không có tuyến tiết nhầy; 2- Vùng lộ tuyến – chuyển sản gai (vùng chuyển dạng); 3- Tuyến tiết nhầy trong mô đệm bị giãn rộng, ứ đầy chất tiết; 4- Vị trí bắt đầu có tuyến tiết nhầy trong mô đệm và vị trị tiếp giáp với phần tuyến cổ trong nằm trong kênh cổ tử cung; 5,6- Biểu mô chuyển sản gai trưởng thành thuộc vùng chuyển dạng có tế bào giàu glycogen có bào tương sáng, giống hệt biểu mô cổ ngoài cổ tử cung nguyên thủy; 7- Biểu mô chuyển sản gai chưa trưởng thành trên bề mặt và trong các khe tuyến cổ trong nằm trong mô đệm. Hình 5: 1- Tế bào dự trữ tăng sản tạo thành một hàng nằm bên dưới tế bào tuyến tiết nhầy; 2-Biểu mô chuyển sản gai chưa trưởng thành; 3- Lớp tế bào trụ bị đẩy lên cao ở biểu mô chuyển sản gai chưa trưởng thành; 4- Biểu mô chuyển sản gai trưởng thành; 5- Tuyến nằm trong mô đệm bên dưới biểu mô chuyển sản gai trưởng thành. Hình 6: Biểu mô chuyển sản gai chưa trưởng thành: 1- Hiện tương chuyển sản gai xảy ra trên lớp biểu mô bề mặt; 2- Lớp tế bào tuyến bị đẩy lên cao bên trên các lớp tế bào gai; 3- Hiện tượng chuyển sản gai xảy ra trong các khe tuyến tiết nhầy nằm trong mô đệm (tuyến cổ trong trong mô đệm chuyển sản gai); 4- Tuyến tiết nhầy nằm trong mô đệm.
Câu 12: Tiêu bản 4: VIÊM RUỘT THỪA CẤP Tiêu bản Viêm ruột thừa cấp minh họa cho tổn thương viêm cấp tính. Viêm cấp tính khởi phát đột ngột, diễn tiến nhanh từ vài giờ đến vài ngày; trên lâm sàng ổ viêm cấp tính có dấu hiệu sưng, nóng, đỏ và đau; mô cơ quan có thể bị mất chức năng do viêm. Nguyên nhân của viêm cấp tính là các tác nhân làm tổn thương mô và gây hoại tử tế bào. Viêm ruột thừa cấp là một cấp cứu ngoại khoa, thường xảy ra trẻ em và người trẻ, tuổi từ 10 đến 30 tuổi. Bệnh sinh là do ruột thừa bị tắc nghẽn, có thể do tăng sản mô limphô ở thành ruột, do sỏi phân, do kí sinh trùng, do dị vật, hoặc bị chèn ép do khối u. Tăng sản mô limphô thành ruột hay xảy ra ở vùng hồi manh tràng, thường do nhiễm virus và là nguyên nhân chủ yếu gây tắc nghẽn ruột thừa ở người từ 10-19 tuổi. Khi ruột thừa bị tắc nghẽn, áp suất trong lòng ruột tăng lên, cản trở tưới máu cho niêm mạc, hậu quả là niêm mạc bị hoại tử. Vi khuẩn có sẵn trong đường ruột xâm nhập vào thành ruột và gây ra phản ứng viêm cấp tính. Nếu không được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời, ruột thừa viêm cấp tính bị vỡ gây viêm mủ phúc mạc, bệnh nhân có thể tử vong. Đại thể: Ruột thừa viêm cấp tính sưng to, phù nề, thấy các mạch máu sung huyết nổi rõ bên dưới thanh mạc. Bề mặt ruột thừa có đóng một lớp giả mạc màu trắng. Xẻ đôi ruột thừa thấy mủ chảy ra từ trong lòng ruột thừa. (Hình 1). Hình 1: Ruột thừa viêm cấp tính sưng to: 1- Mạch máu sung huyết nổi rõ dưới thanh mạc; 2- Giả mạc (dịch xuất tơ huyết) đóng trên bề mặt. Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 13: Hiện tượng sung huyết.
Câu 14: Hiện tượng phù viêm: - Dịch xuất thanh huyết. - Dịch xuất xuất huyết. - Dịch xuất tơ huyết. - Dịch xuất mủ.
Câu 15: Hiện tượng thấm nhập bạch cầu đa nhân trung tính.
Câu 16: Hiện tượng hoại tử niêm mạc. Một ruột thừa viêm bình thường sẽ được cắt lọc và lấy mẫu khảo sát tại ba vị trí: (a) ở gốc ruột thừa (lát cắt ngang), (b) ở đoạn giữa ruột thừa (lát cắt ngang) và (c) ở đỉnh ruột thừa (lát cắt dọc). Quan sát tiêu bản bằng mắt thường có thể phân biệt được các lát cắt này: khoanh tròn nhỏ nhất là đi ngang qua gốc ruột thừa, khoanh tròn lớn hơn là vị trí đoạn giữa ruột thừa và miếng mô hình chữ U là phần đỉnh của ruột thừa (Hình 2). Tổn thương viêm cấp tính và hoại tử xảy ra nặng nhất ở đỉnh, kế đến là ở đoạn giữa ruột thừa, sau đó là ở gốc ruột thừa. Bắt đầu quan sát tiêu bản với lát cắt tròn nhỏ đi qua gốc ruột thừa. Lát cắt này cho thấy rõ nhất cấu trúc mô học bình thường của ruột thừa (Hình 3). Ở vật kính 4X, có thể nhận biết đây là bệnh phẩm ruột thừa. Ruột thừa là một tạng rỗng hình ống, thành có cấu tạo gồm 4 lớp: niêm mạc, dưới niêm mạc, cơ trơn và thanh mạc (Hình 3). Niêm mạc có lớp biểu mô phủ bề mặt, trong mô đệm niêm mạc có các tuyến Lieberkühn, các nang limphô thuộc mảng Peyer của ruột thừa nằm từ lớp dưới niêm mạc lan đến lớp niêm mạc (Hình 3). Thanh mạc hơi dầy hơn bình thường; phủ bên ngoài thanh mạc là lớp giả mạc - chính là lớp dịch xuất tơ huyết. Trên đại thể giả mạc là mảng màng giả có màu trắng; trên vi thể dịch xuất tơ huyết nhuộm màu hồng đậm gồm nhiều sợi tơ huyết tạo thành mạng lưới bắt màu đỏ, giữa các mắt lưới là hồng cầu và bạch cầu (Hình 3,4). Các đặc điểm vi thể của tổn thương viêm cấp tính có thể nhìn thấy rõ hơn ở các lát cắt qua đoạn giữa ruột thừa và đỉnh ruột thừa. Quan sát lát cắt ngang lớn và lát cắt dọc hình chữ U ở vật kính 4X, vẫn còn thấy cấu trúc 4 lớp của ruột thừa, tuy nhiên tổn thương viêm cấp tính đã làm thay đổi nhiều cấu trúc mô học bình thường của ruột thừa (Hình 4,5,6). Hình 2: Tiêu bản viêm ruột thừa cấp: Mẫu (a) lát cắt ngang qua gốc ruột thừa; Mẫu (b) lát cắt ngang qua đoạn giữa ruột thừa; Mẫu (c) lát cắt dọc qua đỉnh ruột thừa có hình chữ U. Tổn thương viêm cấp tính và hoại tử thấy rõ rệt ở mẫu (b) và (c). 1- Vị trí thanh mạc ruột thừa và một phần lớp cơ trơn, thấy rõ hiện tượng sung huyết, phù viêm và thấm nhập bạch cầu đa nhân trung tính; 2- Vị trí của niêm mạc và lòng ruột thừa, thấy hiện tượng hoại tử niêm mạc và dịch xuất mủ nằm trong lòng ruột. Hình 3: Lát cắt ngang qua gốc ruột thừa: 1- Lớp thanh mạc; 2- Lớp cơ trơn; 3- Lớp dưới niêm mạc; 4- Lớp niêm mạc; 5- Nang limphô thuộc mảng Peyer, đi từ dưới niêm mạc lên đến niêm mạc; 6- Dịch xuất tơ huyết (giả mạc) đóng lên bề mặt thanh mạc. (a) (b) (c) Quan sát ruột thừa từ ngoài vào trong, bắt đầu từ thanh mạc đến lòng ruột thừa. Thanh mạc lỏng lẻo nên là nơi dễ nhìn thấy nhất hiện tượng sung huyết và hiện tượng phù viêm. Thanh mạc dầy hơn bình thường do có chứa nhiều dịch phù viêm. Dịch xuất thanh huyết là loại dịch xuất đầu tiên thoát mạch trong viêm cấp tính; dịch xuất thanh huyết là những khoảng chứa chất dịch bắt màu hồng giống như màu của huyết tương nằm chen trong mô liên kết của thanh mạc (Hình 4). Dịch xuất xuất huyết là dịch xuất thanh huyết có kèm theo nhiều hồng cầu, trên vi thể thấy dịch xuất xuất huyết là những đám hồng cầu lớn nằm trong mô đệm bên ngoài mạch máu (Hình 4). Dịch xuất tơ huyết là dịch xuất có chứa nhiều sợi tơ huyết, thường đóng trên bề mặt ruột thừa, bên ngoài lớp thanh mạc. Trên vi thể, dịch xuất tơ huyết là những mảng dạng sợi đan nhau, giữa các mắt lưới là hồng cầu và bạch cầu (Hình 4). Hiện tượng sung huyết thấy ở các lớp của ruột thừa, rõ nhất ở lớp thanh mạc. Ở vật kính 4X, thấy mạch máu sung huyết giãn rộng, trong lòng chứa đầy hồng cầu (Hình 4,5). Quan sát ở vật kính 10X và 40X, thấy các bạch cầu đa nhân trung tính tụ vách ở các mạch máu sung huyết (Hình 5), chuẩn bị thoát mạch ra ngoài, thấm nhập trong mô đệm. Hiện tượng thấm nhập bạch cầu đa nhân trung tính có thể thấy ở tất cả các lớp của thành ruột, trên vi thể là hình ảnh nhiều bạch cầu đa nhân trung tính thấm nhập trong mô đệm (Hình 5). Hiện tượng hoại tử niêm mạc là những vùng niêm mạc bị vỡ vụn không còn cấu trúc (Hình 6). Theo cơ chế bệnh sinh, khởi đầu của viêm ruột thừa cấp là tình trạng tăng áp lực bên trong lòng ruột do ruột thừa bị tắc nghẽn, làm thiếu máu nuôi dẫn đến hoại tử niêm mạc. Các tuyến Lieberkühn bị hoại tử đông do thiếu máu nuôi vẫn còn giữ được cấu trúc ống tuyến, nhưng các tế bào đã bị chết có bào tương đỏ đậm và nhân tan mất (Hình 7). Phản ứng viêm cấp tính xảy ra. Tình trạng xâm nhập vào thành ruột của các vi khuẩn sẵn có trong lòng ruột làm phản ứng viêm nặng thêm. Các tuyến niêm mạc bị hoại tử đông diễn tiến thành hoại tử hóa lỏng, vỡ ra thành những mảnh vụn cùng với xác bạch cầu rơi vào lòng ruột thừa hình thành chất dịch xuất mủ (Hình 7). Hình 4: Dịch phù viêm ở lớp thanh mạc: 1- Dịch xuất tơ huyết đóng trên bề mặt thanh mạc; 2- Dịch xuất thanh huyết; 3- Dịch xuất xuất huyết. Hiện tượng sung huyết: 4- Mạch máu sung huyết giãn rộng ứ đầy hồng cầu. Hiện tượng thấm nhập bạch cầu đa nhân trung tính: 5- Bạch cầu đa nhân trung tính thấm nhập ở lớp cơ trơn thành ruột; 6- Các bó cơ trơn cắt dọc; 7- Thấm nhập bạch cầu đa nhân trong lớp dưới niêm mạc. Hình 5: 1- Dịch xuất tơ huyết: mạng lưới sợi tơ huyết, bên trong có nhiều hồng cầu và bạch cầu; 2- Dịch xuất thanh huyết: chất dịch có màu hồng như huyết tương; 3- Dịch xuất xuất huyết: đám lớn hồng cầu nằm trong mô đệm bên ngoài mạch máu; 4- Hiện tượng sung huyết: mạch máu giãn rộng ứ đầy hồng cầu; 5- Bạch cầu đa nhân tụ vách, chuẩn bị thoát mạch vào mô đệm; 6- Hiện tượng thấm nhập bạch cầu đa nhân trung tính: bạch cầu đa nhân trung tính nằm trong mô đệm, trong lớp cơ trơn thành ruột; 7- Các bó tế bào cơ trơn thành ruột. Hình 6: 1- Lớp thanh mạc; 2- Lớp cơ trơn; 3- Lớp dưới niêm mạc; 4- Lớp niêm mạc có các tuyến Lieberkühn; 5- Hoại tử niêm mạc (các tuyến Lieberkühn bị hoại tử, vỡ vụn); 6- Dịch xuất tơ huyết. Hình 7: 1- Phần niêm mạc ruột thừa chưa bị hoại tử; 2- Hoại tử niêm mạc (các tuyến Lieberkühn của niêm mạc bị hoại tử đông); 3- Hoại tử niêm mạc (các tuyến của niêm mạc chuyển từ hình thái hoại tử đông thành hoại tử hóa lỏng, gồm các mảnh tế bào vỡ vụn); 4- Mủ (các mảnh vỡ của tế bào tuyến niêm mạc bị hoại tử và xác bạch cầu rơi vào lòng ruột thừa); 5- Dịch xuất tơ huyết; 6- Lớp thanh mạc; 7- Lớp cơ; 8- Lớp dưới niêm mạc.
Câu 17: Tiêu bản 5: VIÊM LOÉT DA MẠN TÍNH Tiêu bản Viêm loét da mạn tính minh họa cho tổn thương viêm mạn tính. Viêm mạn tính là phản ứng viêm kéo dài nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, có thể phát triển sau một viêm cấp tính do chưa loại bỏ được tác nhân gây viêm hoặc viêm mạn tính xuất hiện ngay từ đầu. Trong viêm mạn tính có sự kết hợp giữa hai hình ảnh là tổn thương mô và cố gắng tái tạo mô bị tổn thương. Do đó, hình ảnh đặc trưng của viêm mạn tính là tình trạng thấm nhập tế bào viêm đơn nhân và phản ứng tăng sinh mô liên kết – mạch máu. Viêm loét da mạn tính hay xảy ra trên những cơ địa tiểu đường, suy dinh dưỡng, thiếu vitamin, khi đó cơ thể dễ bị nhiễm trùng hơn hoặc khó loại bỏ được tác nhân gây bệnh hơn cũng như dễ bị các rối loạn trong quá trình sửa chữa mô bị tổn thương hơn. Đại thể: Vết loét có kích thước vài cm, bờ ổ loét hơi gồ lên do hoạt động tăng sinh tái tạo của lớp biểu bì; bề mặt ổ loét lổn nhổn dạng hạt màu đỏ, dễ chảy máu khi đụng đến, có thể có thêm dịch xuất mủ hoặc dịch xuất tơ huyết khi ổ loét bị bội nhiễm với các tác nhân gây viêm cấp tính (Hình
Câu 18: Hiện tượng thấm nhập tế bào viêm đơn nhân: - Limphô bào. - Tương bào. - Đại thực bào.
Câu 19: Hiện tượng tăng sinh mô liên kết mạch máu: - Nguyên bào sợi - Mạch máu tân sinh. Nhắc lại về đặc điểm hình thái của các tế bào tìm thấy trong phản ứng viêm mạn tính (Hình 2): - Đại thực bào là tế bào viêm đơn nhân có kích thước lớn, khoảng từ 25 – 30 µm; màng tế bào không rõ nét, bị sờn xơ do hoạt động thực bào; nhân đại thực bào sáng, có hình bầu dục hay khía lõm như hạt đậu, lệch về một phía, có một hạch nhân nhỏ; bào tương nhiều, nhạt màu, trong bào tương có không bào chứa các vật thể được thực bào. - Tương bào là tế bào viêm đơn nhân có kích thước trung bình, khoảng từ 12 đến 15 µm, tế bào hình bầu dục, màng tế bào rõ nét, nhân lệch một bên, chất nhiễm sắc trong nhân tụ lại đám, bám ngay dưới màng nhân tạo hình ảnh nhân giống như hình bánh xe. Tương bào có bào tương màu tím hồng đặc trưng, bào tương chừa lại một vùng sáng cạnh nhân. - Nguyên bào sợi là thành phần tế bào của phản ứng tăng sinh mô liên kết – mạch máu. Nguyên bào sợi có kích thước lớn 20-30 µm, nhân hình bầu dục thuôn dài, nhân sáng, hạt nhân nhỏ, bào tương hình thoi, thường khó nhận thấy bào tương trên lát cắt mô học. Nguyên bào sợi sau khi tiết ra sợi collagen, sẽ dần dần trở thành tế bào sợi. Tế bào sợi có kích thước nhỏ hơn, khoảng 15 – 20 µm, nhân hình thoi, đậm màu, ít bào tương. Hình 2: 1- Đại thực bào; 2- Tương bào; 3- Limphô bào; 4- Nguyên bào sợi; 5- Tế bào sợi. Bắt đầu với vật kính 4X, quét nhanh tiêu bản. Mẫu mô sinh thiết từ da, được phủ lớp biểu mô lát tầng sừng hóa. Ổ loét là một vùng bị mất lớp biểu mô phủ, trên bề mặt bị bội nhiễm nên có phản ứng viêm cấp tính, phủ một lớp dịch xuất tơ huyết (Hình 3). Tổn thương viêm mạn tính nằm trong mô đệm của da, bên dưới lớp biểu bì và bên dưới ổ loét (Hình 3). Biểu mô lát tầng sừng hóa ở bờ ổ loét tăng sản phản ứng dầy lên. Quan sát vùng tổn thương viêm mạn tính, ở vật kính 10X và 40X, thấy các hiện tượng tăng sinh mô liên kết – mạch máu và thấm nhập tế bào viêm đơn nhân. Hiện tượng tăng sinh mô liên kết-mạch máu: Mạch máu tân sinh hình thành từ sự phân nhánh của các mạch máu sẵn có trong vùng tổn thương. Mạch máu tân sinh là những cấu trúc có lòng, hình tròn (nếu được cắt ngang) hoặc hình ống (nếu được cắt dọc), lót tế bào nội mô có nhân phồng to, lớn và sáng, hình tròn, thò vào lòng mạch (Hình 4). Nguyên bào sợi nằm rải rác, sản xuất ra các sợi collagen (Hình 4). Hiện tượng thấm nhập tế bào viêm đơn nhân: Trong mô đệm có nhiều tế bào viêm đơn nhân thấm nhập như limphô bào, tương bào, đại thực bào (Hình 5). Hình 3: 1- Biểu mô lát tầng sừng hóa của da ở bờ ổ loét tăng sản dầy lên; 2- Ổ loét là vùng bề mặt bị mất biểu mô; 3- Dịch xuất tơ huyết phủ trên ổ loét; 4- Vùng mô đệm bên dưới biểu mô lát tầng sừng hóa và bên dưới ổ loét có phản ứng viêm mạn tính. Hình 4: 1- Mạch máu tân sinh có tế bào nội mô phồng to, thò vào lòng mạch; 2- Nguyên bào sợi; 3- Các sợi collagen; 4- Tế bào viêm đơn nhân thấm nhập trong mô đệm. Hình 5: 1- Đại thực bào; 2- Limphô bào; 3- Tương bào; 4- Mạch máu tân sinh.
Câu 20: Tiêu bản 6: VIÊM LAO HẠCH Tiêu bản Viêm lao hạch minh họa cho tổn thương viêm hạt do vi khuẩn lao. Viêm hạt là một dạng của viêm mạn tính, có đặc điểm vi thể đặc trưng là các u hạt. Đây là một cách để cơ thể kiểm soát được tác nhân gây bệnh thuộc loại khó bị tiêu diệt. Có nhiều tác nhân có thể gây viêm hạt, trong đó vi khuẩn lao là một trong những tác nhân thường gặp. Tổn thương cơ bản của viêm lao là u hạt lao, còn được gọi là các nang lao. Các cơ quan khác nhau bị nhiễm vi khuẩn lao đều có cùng tổn thương cơ bản này. U hạt được hình thành nhằm nhốt giữ vi khuẩn lao, không cho chúng phát tán đi nơi khác. Tế bào T CD4+ sản xuất các chất trung gian hóa học, làm chuyển dạng đại thực bào thành tế bào dạng biểu mô, giúp các tế bào dạng biểu mô hòa nhập lại thành đại bào Langhans. Còn các tế bào T CD8+ có khả năng tiêu hủy các đại thực bào có mang vi khuẩn lao, tạo ra chất hoại tử bã đậu ở trung tâm của u hạt lao. Đại thể: Hạch viêm lao thường thấy ở vùng cổ, nách, trên đòn. Hạch to thành chuỗi, tròn, chắc, kích thước từ 1 đến
Câu 21: cm, mặt cắt của hạch có những vùng màu vàng trắng là nang lao chứa chất hoại tử bã đậu màu vàng kem (Hình 1). Hình 1: Hạch to tròn chắc, mặt cắt có vùng màu vàng trắng là nang lao, có chứa chất hoại tử bã đậu màu vàng kem. Chất hoại tử bã đậu là một khối mềm khô, vụn, giống như phô mai. Vùng mô hạch còn lại có màu xám. Vi thể : Mục tiêu cần tìm
Câu 22: Nang lao: - Tế bào dạng biểu mô. - Đại bào Langhans. - Chất hoại tử bã đậu. - Viền limphô bào – tương bào.
Câu 23: Mô limphô bình thường còn lại của hạch Bắt đầu với vật kính 4X, quét nhanh tiêu bản. Bệnh phẩm là một hạch limphô, có vỏ bao sợi bao quanh, bên trong là nhu mô hạch là mô limphô nên có màu tím (Hình 2). Trên nền mô limphô của hạch, thấy có nhiều nang lao nằm rải rác. Nang lao là những cấu trúc màu hồng, tương phản rõ với nền limphô màu tím của mô hạch còn lại. Các nang lao có thể hợp lại tạo thành nang lao lớn. Quan sát các nang lao ở độ phóng đại nhỏ đã có thể thấy được thành phần tế bào có kích thước lớn nhất trong nang lao, đó chính là các đại bào Langhans (Hình 3). Ở độ phóng đại lớn hơn, vật kính 10X và 40X, thấy nang lao gồm có chất hoại tử bã đậu ở giữa. Chất hoại tử bã đậu có dạng hạt mịn và bắt màu hồng đậm (Hình 2,3,4). Xung quanh chất hoại tử bã đậu là các tế bào dạng biểu mô và đại bào Langhans. Ở vật kính 40X, đại bào Langhans là tế bào khổng lồ, có nhiều bào tương màu hồng, có nhiều nhân, điển hình nhân sẽ xếp vòng quanh như hình móng ngựa. Tế bào dạng biểu mô có nhân hình tròn hay bầu dục, hạch nhân nhỏ, giống nhân của đại bào Langhans, bào tương nhiều màu hồng, giới hạn bào tương không rõ. Viền limphô bào – tương bào là một thành phần của nang lao, nằm ở vị trí tiếp giáp giữa nang lao và mô hạch còn lại, chính là các limphô bào và tương bào nằm rải rác trên nền màu hồng của nang lao (Hình 4). Cần phân biệt với limphô bào của mô hạch còn lại xung quanh các nang lao. Nhu mô hạch còn lại bên ngoài các nang lao là mô limphô có các nang limphô thứ cấp. Hình 2: 1- Nhu mô hạch gồm các limphô bào có màu tím, được bao quanh bởi vỏ bao sợi ; 2- Các nang lao kích thước to nhỏ khác nhau, có màu hồng nổi rõ trên nền mô hạch màu tím, hoại tử bã đậu ở giữa nang lao (mũi tên); 3- Các nang lao có thể hợp lại với nhau thành nang lao lớn Hình 3: 1- Đại bào Langhans có kích thước lớn, có nhiều nhân, nhân sắp xếp như hình móng ngựa ; 2- Tế bào dạng biểu mô có bào tương hồng giới hạn không rõ, nhân tròn hay bầu dục, hạch nhân nhỏ; 3- Chất hoại tử bã đậu nằm giữa nang lao, có dạng hạt mịn bắt màu ái toan; 4- Viền limphô bào – tương bào; 5- Mô hạch bình thường còn sót lại. Hình 4: 1- Đại bào Langhans; 2- Tế bào dạng biểu mô; 3- Chất hoại tử bã đậu; 4- Các limphô bào (thuộc viền limphô bào – tương bào); 5- Tương bào (thuộc viền limphô bào – tương bào)
Câu 24: Tiêu bản 7: SẸO LỒI Tiêu bản Sẹo lồi minh họa cho bất thường trong sửa chữa tổn thương. Ở da, nếu tổn thương chỉ giới hạn trong lớp biểu bì, sửa chữa tổn thương chỉ đơn giản là một quá trình tái tạo lại lớp biểu mô lát tầng sừng hóa. Nhưng nếu tổn thương vượt quá lớp biểu bì, đi sâu vào bên dưới, sửa chữa tổn thương sẽ bao gồm cả quá trình tái tạo và quá trình tạo sẹo. Sửa chữa tổn thương ở da, còn được gọi là sự lành vết thương của da nếu diễn ra bất thường có thể dẫn đến những hậu quả như không lành thương làm bục vết thương hoặc loét, hoặc tạo sẹo lồi hoặc tạo sẹo co kéo. Sẹo lồi là do hoạt động quá mức của các nguyên bào sợi trong quá trình tạo sẹo, sản xuất ra quá nhiều sợi collagen, làm vùng mô bị hóa sẹo gồ lên khỏi bề mặt da. Đại thể: Sẹo lồi nằm ở vị trí vết thương da ban đầu, hơi lan rộng ra hơn so với kích thước của vùng tổn thương trước đó, nổi gồ cao lên bề mặt da, mật độ chắc, bề mặt láng, có màu đỏ, hồng hoặc sậm màu. (Hình 1). Hình 1: Sẹo lồi ở cẳng chân, tại vị trí một đường rạch trên da đã được khâu lại trước đó. Sẹo gồ cao lên bề mặt da, có màu hồng đến nâu, bề mặt láng. Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 25: Nguyên bào sợi.
Câu 26: Bó sợi collagen tăng sinh.
Câu 27: Bó sợi hyalin hóa. Tiêu bản là một sẹo lồi. Nhìn bằng mắt thường thấy sẹo có kích thước khá lớn, chiều ngang của tổn thương khoảng 1,5cm, gồ cao lên bề mặt. Bắt đầu quan sát tiêu bản với vật kính 4X, bệnh phẩm gồm mô sẹo lồi, một ít da bình thường ở rìa tổn thương và lớp bì bình thường bên dưới tổn thương (Hình 2). Quan sát vùng tổn thương, thấy lớp biểu bì phủ trên bề mặt tăng sản nhẹ, hơi dầy hơn khi so sánh với biểu bì bình thường kế cận tổn thương; ngay bên dưới biểu bì tăng sản là một dải mỏng mô liên kết đặc (giàu sợi collagen và rất ít tế bào) của lớp bì bình thường (Hình 2). Da vùng tổn thương dầy lên đáng kể, gồ cao lên bề mặt là do trong lớp bì có tình trạng tăng sinh mô sợi mạnh mẽ. Trong vùng này có nhiều nguyên bào sợi tăng sinh, tăng sản xuất sợi collagen, tạo thành các bó sợi collagen tăng sinh (Hình 2,3). Bó sợi collagen tăng sinh là các cấu trúc gồm các nguyên bào sợi nằm trên nền các bó sợi collagen màu hồng. Nguyên bào sợi có kích thước lớn, khoảng 20-30 µm, có dạng hình thoi, nhân hình bầu dục thuôn dài, sáng màu, chuốt nhọn về phía 2 đầu. Bó sợi collagen gồm các sợi mảnh bắt màu hồng lợt, xếp thành bó có mật độ dày đặc, uốn lượn gợn sóng (Hình 2,3,4). Trong diễn tiến của sẹo lồi, các bó sợi collagen tăng sinh sẽ bị lắng đọng chất hyalin, trở thành bó sợi hyalin hóa. Người ta vẫn chưa rõ nguyên nhân dẫn đến lắng đọng hyalin ngoại bào trên các bó sợi collagen trong sẹo lồi. Bó sợi hyalin hóa đồng nhất, có màu hồng đậm hơn, không còn thấy các sợi collagen mảnh nữa; các nguyên bào sợi cũng bị đẩy dạt ra ngoài bó sợi hyalin hóa (Hình 2,3,4). Không có các phần phụ da bình thường như nang lông – tuyến bã, tuyến mồ hôi trong tổn thương. Bên dưới vùng mô sợi tăng sinh và hyalin hóa là lớp bì bình thường (Hình 2). Bên ngoài tổn thương là da bình thường có phần phụ da như nang lông – tuyến bã. Hình 2: 1- Da bình thường (biểu bì, bì) và mô dưới da bình thường; 2- Tổn thương sẹo lồi, gồ cao lên so với bề mặt da bình thường (đường kẻ đứt khúc); 3- Biểu bì tăng sản nhẹ; 4- Dải mô bì bình thường (mô liên kết đặc) ngay bên dưới biểu bì; 5- Bó sợi collagen tăng sinh; 6- Bó sợi hyalin hóa; 7- Lớp bì sâu bên dưới (mô liên kết đặc giàu sợi collagen) bình thường. Hình 3: 1- Các bó sợi collagen tăng sinh: các nguyên bào sợi nằm trên nền sợi collagen; 2- Các bó sợi hyalin hóa: các bó sợi mất dạng sợi mảnh, trở nên đồng nhất, bắt màu hồng đậm hơn, không còn nguyên bào sợi trên nền bó sợi hyalin hóa. Hình 4: 1- Các bó sợi collagen tăng sinh; 2- Các bó sợi hyalin hóa; 3- Nguyên bào sợi; 4- Sợi collagen.
Câu 28: Tiêu bản 8: MÔ TỤY LẠC CHỖ Ở THÀNH DẠ DÀY Tiêu bản Mô tụy lạc chỗ ở thành dạ dày là ví dụ về u nghịch tạo lạc chỗ (choristôm). Đây là một tổn thương giả u. Choristôm là một mô bình thường về mặt cấu trúc và chức năng nhưng nằm ở ngoài vị trí giải phẫu bình thường của nó. Mô tụy lạc chỗ có thể phát hiện ở cả người lớn và trẻ em, nam giới hơi nhiều hơn nữ giới. Mô tụy có thể lạc chỗ ở nhiều vị trí, được giải thích là do sự di chuyển của mô tụy từ thành tá tràng trong quá trình phát triển phôi thai. 30% mô tụy lạc chỗ ở thành dạ dày. Tổn thương thường không gây triệu chứng lâm sàng. Nếu có chỉ là các triệu chứng không đặc hiệu như đau bụng, khó chịu ở thượng vị, buồn nôn, nôn, có thể gây xuất huyết tiêu hóa. Khoảng 0,5% đến 13% các trường hợp tử thiết trên những người mất vì các lý do khác thấy có mô tụy lạc chỗ ở thành dạ dày. Mô tụy lạc chỗ ở thành dạ dày phát triển tạo thành một khối giống như một khối u, có thể gây nhầm lẫn với u ác tính của dạ dày. Đại thể: Tổn thương là một khối đơn độc, nằm dưới niêm mạc, đội niêm mạc lên thành hình vòm, làm biến dạng nếp gấp niêm mạc bình thường. Vị trí thường gặp là vùng hang vị và tiền môn vị. Mặt cắt tổn thương màu trắng xám, giới hạn không rõ, nằm trong lớp dưới niêm mạc, kích thước 2-3 cm hoặc rất nhỏ chỉ vài mm, có thể chui vào lớp cơ bên dưới (Hình 1). Hình 1: Tổn thương giới hạn không rõ, mặt cắt màu trắng xám, đội niêm mạc lên thành hình vòm (mũi tên). Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 29: Nang tuyến tụy ngoại tiết và ống bài xuất.
Câu 30: Tiểu đảo tụy nội tiết Langerhans.
Câu 31: Các lớp thành dạ dày. Tiêu bản có 2 mẫu mô, đều là bệnh phẩm dạ dày có chứa mô tụy lạc chỗ. Bắt đầu quan sát tiêu bản ở vật kính nhỏ nhất, trên hai mẫu mô đều thấy đầy đủ các lớp của thành dạ dày: lớp niêm mạc, lớp dưới niêm mạc, lớp cơ và thanh mạc (Hình 2). Lớp niêm mạc có biểu mô lá tuyến phủ trên bề mặt, phễu dạ dày và các tuyến dạ dày nằm trong mô đệm. Mô đệm niêm mạc thấm nhập nhiều tế bào viêm mạn tính, rải rác có các tương bào, nhiều limphô bào tập trung thành mảng mô limphô lớn nằm ở phần sâu của mô đệm niêm mạc (Hình 2,6). Tình trạng viêm mạn tính này có thể do niêm mạc dạ dày tiếp xúc thường xuyên với dịch tụy được tiết ra từ mô tụy lạc chỗ nằm bên dưới lớp niêm mạc. Cơ niêm ngăn cách niêm mạc và lớp dưới niêm mạc. Lớp dưới niêm mạc là một mô liên kết có nhiều mạch máu. Trong lớp dưới niêm mạc cũng có thấm nhập rải rác các tế bào viêm mạn tính. Ở hình 2, thấy lớp dưới niêm mạc bị choán chỗ bởi một khối mô lớn có màu tím; khối mô này sắp xếp thành các tiểu thùy, nằm trong lớp dưới niêm mạc và len lỏi vào lớp cơ, tách và nằm giữa các bó cơ trơn thành dạ dày. Một số khối mô màu tím và nhiều ống bài xuất đi xa hơn khỏi lớp cơ, ra đến thanh mạc (Hình 2,3,5). Quan sát khối mô tụy lạc chỗ ở độ phóng đại lớn hơn (Hình 3,4,5), thấy mô tuyến tụy có xu hướng sắp xếp thành các tiểu thùy. Trong các tiểu thùy, các tế bào tụy ngoại tiết xếp thành các cấu trúc túi tuyến (nang tuyến) hình tròn, lòng rất nhỏ, hầu như không nhận thấy (Hình 3,4). Tế bào nang tuyến tụy ngoại tiết có hình trụ thấp, bào tương màu tím, nhân tròn lệch về cực đáy, phần bào tương ở cực đỉnh chứa nhiều hạt tiền enzyme bắt màu ái toan (Hình 4). Sản phẩm chế tiết được đổ vào các ống bài xuất, từ ống nhỏ bên trong các tiểu thùy – là các ống tròn nhỏ, lòng rõ, lót tế bào biểu mô vuông đơn, đến các ống bài xuất lớn hơn nằm ngoài tiểu thùy (Hình 3,4,5). Trong các tiểu thùy còn thấy các tiểu đảo tụy nội tiết Langerhans (Hình 4). Tiểu đảo tụy nội tiết có cấu tạo gồm các tế bào có nhân tròn và bào tương nhiều, nhạt màu. Mô tuyến tụy có cấu trúc mô học đầy đủ như một mô tụy bình thường, nằm ở thành dạ dày nhưng nương theo và không phá vỡ cấu trúc bình thường của dạ dày. Đây là một tổn thương giả u, lành tính. Hình 2: Tiêu bản có 2 mẩu mô, cả hai mẫu đều có đầy đủ các lớp của dạ dày và có chứa khối mô tụy lạc chỗ. 1- Lớp niêm mạc có biểu mô phủ bề mặt, tuyến dạ dày và mô đệm niêm mạc thấm nhập tế bào viêm; 2- Lớp dưới niêm mạc là mô liên kết lỏng lẻo có các mạch máu và thấm nhập tế bào viêm. Khối màu tím choán chỗ trong lớp dưới niêm mạc là mô tụy lạc chỗ, sắp xếp thành các tiểu thùy; 3- Lớp cơ: thành cơ dạ dày rất dày, các bó cơ trơn đan chéo nhau. Một số khối mô tụy lạc chỗ từ lớp dưới niêm chẻ vào trong lớp cơ; 4- Lớp thanh mạc: mô tụy lạc chỗ đi xa qua khỏi lớp cơ, đến dưới thanh mạc chính thức (thanh mạc chính thức là một lớp tế bào trung mạc dẹt phủ ngoài cùng thành dạ dày); 5- Cơ niêm ngăn cách niêm mạc và lớp dưới niêm mạc; 6- Limphô bào thấm nhập trong lớp niêm mạc; 7- Mô tuyến tụy lạc chỗ trong lớp dưới niêm mạc, trong lớp cơ trơn và thanh mạc. Hình 3: 1- Lớp niêm mạc thấm nhập tế bào viêm, các limphô bào tập trung lại thành mảng mô limphô lớn ở phần sâu của mô đệm niêm mạc; 2- Lớp dưới niêm mạc là mô liên kết lỏng lẻo, bị choán chỗ một phần bởi khối mô tụy lạc chỗ; 3- Lớp cơ trơn dầy, các bó cơ trơn chạy đan chéo nhau, bị chẻ bởi các khối mô tụy lạc chỗ; 4- Tế bào mô tụy sắp xếp thành tiểu thùy nằm trong lớp dưới niêm mạc và lớp cơ; 5- Các ống bài xuất lớn nằm ngoài tiểu thùy. Hình 4: 1- Nang tuyến tụy ngoại tiết (hay các túi tuyến) lót tế bào nang tuyến hình trụ thấp, bào tương màu tím, nhân lệch sát đáy, cựa đỉnh có các hạt tiền enzyme bắt màu ái toan, lòng nang rất nhỏ, không nhìn thấy rõ; 2- Tiểu đảo tụy nội tiết Langerhans nằm giữa mô tụy ngoại tiết, gồm các tế bào hình tròn, nhân tròn và bào tương nhạt màu; 3- Ống bài xuất trong tiểu thùy, lót tế bào biểu mô vuông đơn, lòng ống to, rõ. Hình 5: Thành cơ trơn dạ dày bị choán chỗ bởi các tiểu thùy của mô tụy lạc chỗ. 1- Nang tuyến tụy ngoại tiết; 2- Ống bài xuất trong tiểu thùy; 3- Ống bài xuất ngoài tiểu thùy; 4- Bó cơ trơn của thành dạ dày Hình 6: Niêm mạc dạ dày thấm nhập tế bào viêm mạn tính (A): 1- Tuyến dạ dày; 2- Limphô bào tập trung thành mảng mô limphô lớn; 3- Tương bào; 4- Bạch cầu đa nhân ái toan. Lớp dưới niêm mạc là mô liên kết lỏng lẻo, cũng thấm nhập nhiều tế bào viêm: 5- Cơ niêm ngăn cách niêm mạc và dưới niêm mạc, thấm nhập nhiều tế bào viêm; 6- Các đại thực bào. A B
Câu 32: Tiêu bản 9: LSIL – HSIL CỔ TỬ CUNG Tiêu bản LSIL và HSIL minh họa cho tổn thương nghịch sản. Thuật ngữ nghịch sản được sử dụng ở nhiều cơ quan khác nhau, thông thường đối với biểu mô lát tầng nghịch sản được chia thành ba mức độ nhẹ, vừa và nặng. Hình ảnh vi thể của nghịch sản bao gồm sự thay đổi về kích thước và hình dạng tế bào, tế bào to nhỏ không đều nhau, nhân lớn không đều, tăng sắc, định hướng sắp xếp các tế bào trong mô bị rối loạn. Trong biểu mô lát tầng, nếu những biến đổi này còn giới hạn ở 1/3 dưới bề dày biểu mô, gọi là nghịch sản nhẹ, lên đến 1/3 giữa bề dầy biểu mô, gọi là nghịch sản vừa, lên đến 1/3 trên bề dày biểu mô, chỉ còn chừa lại lớp tế bào bề mặt bình thường, gọi là nghịch sản nặng Theo phân loại cập nhật mới của WHO, thuật ngữ SIL (squamous intraepithelial lesion) chỉ các tổn thương tiền ung (hay nghịch sản) của cổ tử cung. SIL được định nghĩa là một rối loạn tăng sinh của tế bào gai gây ra do nhiễm virus HPV, có sự bất thường trong trưởng thành của biểu mô và/hoặc biến đổi tế bào do nhiễm virus. SIL được chia thành 2 mức độ LSIL (Low-grade squamous intraepithelial lesion – tổn thương trong biểu mô gai grad thấp - tương ứng với nghịch sản nhẹ) và HSIL (High-grade squamous intraepithelial lesion – tổn thương trong biểu mô gai grad cao - tương ứng với nghịch sản vừa, nghịch sản nặng và carcinôm tại chỗ) tùy theo các tế bào còn non chưa trưởng thành còn giới hạn ở 1/3 dưới bề dầy biểu mô hay đã lan quá 1/3 dưới bề dầy của biểu mô, và có thể chiếm toàn bộ bề dầy của biểu mô. Tổn thương chưa phá vỡ màng đáy, chưa xâm nhập vào mô đệm. LSIL liên quan với nhiễm virus HPV týp nguy cơ thấp thường có tổn thương tạo nhú (conđilôm sùi), liên quan với nhiễm HPV týp nguy cơ cao thường có dạng phẳng (conđilôm phẳng). HSIL liên quan với nhiễm HPV týp nguy cơ cao. LSIL có tiên lượng tốt do đa số trường hợp LSIL tự thoái triển, chỉ cần theo dõi mà không cần điều trị. Những trường hợp LSIL tồn tại kéo dài (trên 2 năm) sẽ được điều trị cắt bỏ tổn thương bằng vòng điện (loop electrocautery xecision procedure – LEEP). Khoảng 10% trường hợp LSIL tiến triển tiếp tục thành HSIL. HSIL có tỉ lệ tự thoái triển thấp hơn, 10% tiến triển tiếp tục thành carcinôm xâm nhập. HSIL là tổn thương nguy cơ cao, do đó cần cắt bỏ ngay tổn thương bằng vòng điện hoặc khoét chóp cổ tử cung. Đại thể: Tổn thương LSIL dạng phẳng và HSIL ở cổ tử cung khó nhận biết được bằng mắt thường, có thể giống như một viêm lộ tuyến chuyển sản gai thông thường. Không thể phân biệt được LSIL và HSIL trên đại thể. Trên soi cổ tử cung, tổn thương SIL thấy được dưới hình ảnh “vết trắng” sau khi bôi acid acetic. Hình 1: Vùng màu đỏ ở mép trước cổ tử cung (A); Bôi acid acetic 3% cho thấy các vết trắng giới hạn rõ ở mép trước cổ tử cung (B). Kết quả giải phẫu bệnh là một HSIL. Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 33: Biểu mô lát tầng không sừng hóa bình thường của cổ ngoài cổ tử cung.
Câu 34: Biểu mô LSIL: tế bào lớp đáy và cận đáy có hình dạng và kích thước hơi thay đổi khác nhau, nhân tăng sắc méo mó, phân bào tăng và không còn giới hạn ở lớp đáy, tế bào xếp thẳng góc với màng đáy; hình ảnh nghịch sản chiếm 1/3 dưới bề dầy biểu mô; trong lớp nông có các tế bào rỗng là các tế bào gai bị biến đổi do nhiễm HPV.
Câu 35: Biểu mô HSIL – vùng nghịch sản nặng: hình ảnh nghịch sản lên đến 1/3 trên bề dầy biểu mô, lớp tế bào bề mặt vẫn còn nhân dẹt giống tế bào biểu mô lát bình thường.
Câu 36: Biểu mô HSIL – vùng carcinôm tại chỗ: hình ảnh nghịch sản chiếm trọn bề dầy biểu mô, lớp tế bào bề mặt có nhân tăng sắc méo mó Bộ tiêu bản minh họa cho tổn thương LSIL – HSIL gồm 2 tiêu bản: LSIL và HSIL. Đây là 2 mẫu sinh thiết từ hai bệnh nhân khác nhau. Trên tiêu bản LSIL, tổn thương quan sát được là một nghịch sản nhẹ có kèm theo biến đổi tế bào do nhiễm virus HPV (tế bào rỗng trong các lớp nông của biểu mô). Trên tiêu bản HSIL, tổn thương quan sát được gồm HSIL – vùng nghịch sản nặng và HSIL – vùng carcinôm tại chỗ, không kèm theo hình ảnh tế bào rỗng. Quan sát tiêu bản LSIL. Ở vật kính 4X, thấy mẫu sinh thiết từ cổ tử cung được phủ bởi biểu mô lát tầng không sừng hóa, trong mô đệm có vài tuyến trụ đơn tiết nhầy (Hình 2). Tổn thương LSIL xảy ra trên các biểu mô lát tầng này có thể biểu hiện rõ ràng với tế bào nghịch sản chiếm 1/3 dưới bề dầy biểu mô, các lớp phía trên có nhiều tế bào rỗng (Vị trí (2) – hình 2); hoặc có thể chỉ biểu hiện bằng hình ảnh lớp đáy tăng sản nhiều hơn 1 hàng tế bào, tế bào rỗng không thật rõ ràng (Vị trí (1) - Hình 2). Mô đệm thấm nhập ít tế bào viêm. Ở độ phóng đại lớn hơn, thấy 1/3 dưới biểu mô có mật độ tế bào tăng cao, tế bào to nhỏ không đều, nhân tăng sắc, méo mó, tỉ lệ nhân / bào tương cao. Các lớp nông vẫn còn sự trưởng thành của tế bào, các tế bào có hình đa diện, nhiều bào tương; tuy nhiên, các tế bào này có biến đổi của tế bào do nhiễm HPV, nhân tăng sắc, méo mó, và có vòng sáng quanh nhân to và rõ nét – gọi là tế bào rỗng (Hình 3). Quan sát tiêu bản HSIL. Trong tiêu bản này, HSIL gồm có hình ảnh nghịch sản nặng và carcinôm tại chỗ xen kẽ với nhau, không có nghịch sản vừa. Bắt đầu với vật kính 4X, quét nhanh tiêu bản. Bệnh phẩm được sinh thiết bằng kềm bấm, có kích thước khá nhỏ (Hình 4). Mẫu mô có mô đệm xơ xuất huyết và thấm nhập tế bào viêm, hai bên phủ bởi hai mảnh biểu mô dầy gồm nhiều lớp tế bào. Quan sát mảnh biểu mô có màu hồng lợt, thấy đây là lớp biểu mô lát tầng bình thường của cổ tử cung (Hình 4). Ở độ phóng đại nhỏ, thấy biểu mô bình thường có một màu hồng nhạt (màu của bào tương) là do mật độ tế bào bình thường, nhân nhỏ và chất nhiễm sắc mịn. Mảnh biểu mô có màu tím đậm chính là phần biểu mô bị nghịch sản (Hình 4). Do có rối loạn tăng sinh tế bào nên mật độ tế bào trong mảnh biểu mô này cao, kết hợp với nhân tế bào nghịch sản có kích thước lớn tăng sắc méo mó, dị dạng nên mảnh biểu mô nghịch sản có màu tím đậm (màu của nhân tế bào) khi quan sát ở độ phóng đại nhỏ. Hình 2: Tiêu bản LSIL - Tổn thương tại những vị trí khác nhau trên mẫu sinh thiết: 1- LSIL; 2- Tăng sản lớp đáy; 3- Tế bào rỗng trong các lớp nông của biểu mô; 4- LSIL; 5- Tế bào to nhỏ không đều, nhân dị dạng rõ, mật độ tế bào cao, chiếm 1/3 dưới bề dầy biểu mô; 6- Các lớp nông của biểu mô có nhiều tế bào rỗng; 7- Mô đệm thấm nhập tế bào viêm; 8- Tuyến tiết nhầy trong mô đệm. Hình 3: Biểu mô LSIL: 1- Ở 1/3 dưới bề dầy biểu mô có mật độ tế bào cao, tế bào có nhân dị dạng tăng sắc méo mó; 2- Ở các lớp nông của biểu mô có nhiều tế bào rỗng (mũi tên trắng) có nhân tăng sắc méo mó, vòng sáng quanh nhân to nhỏ không đều và rõ nét; 3- Mô đệm thấm nhập ít tế bào viêm. Hình 4: Tiêu bản HSIL: 1- Biểu mô lát tầng bình thường của cổ tử cung; 2- Biểu mô HSIL; 3- Mô đệm thấm nhập tế bào viêm kèm xuất huyết. Quan sát phần biểu mô nghịch sản ở vật kính 10X và 40X, thấy tổn thương nằm trong biểu mô, phía trên màng đáy; mô đệm bên dưới chỉ có xuất huyết và thấm nhập ít tế bào viêm. Biểu mô có mật độ tế bào rất cao; tế bào to nhỏ không đều, có nhân dị dạng, tăng sắc, méo mó, tỉ lệ nhân trên bào tương cao, có nhiều phân bào không còn giới hạn ở lớp đáy, định hướng tế bào trong biểu mô bị rối loạn, tế bào dựng đứng, trục không còn song song với màng đáy (Hình 5,6). Hình ảnh bất thường này chiếm gần hết bề dày biểu mô, chỉ còn lớp tế bào trên bề mặt là còn nhân dẹt với trục nhân song song với màng đáy. Đây là tổn thương nghịch sản nặng (Hình 5). Tại một số vị trí trong biểu mô này, các tế bào bề mặt không còn là tế bào dẹt mà là những tế bào có nhân lớn, dị dạng tăng sắc, có khi dựng đứng lên trên bề mặt. Đây là hình ảnh của carcinôm tại chỗ (Hình 6). Trên tiêu bản này, vùng nghịch sản nặng và vùng carcinôm tại chỗ xen kẽ, nối tiếp nhau. Trong thực hành, tổn thương nặng nhất sẽ được chọn để xác định chẩn đoán, do đó tiêu bản này là một carcinôm tại chỗ. Tuy nhiên, theo phân loại WHO cho bệnh lý ở cổ tử cung, HSIL là thuật ngữ bao trùm các tổn thương nghịch sản vừa, nghịch sản nặng và carcinôm tại chỗ, nên chẩn đoán cuối cùng cho trường hợp này là một HSIL. Hình 5: HSIL- vùng nghịch sản nặng: các tế bào nghịch sản có nhân tăng sắc, dị dạng, tỉ lệ nhân/bào tương cao chiếm gần trọn bề dày biểu mô, chỉ chừa lại lớp tế bào trên cùng có nhân còn dẹt: 1- Tế bào bề mặt có nhân dẹt giống biểu mô lát tầng bình thường; 2- Phân bào tăng, không còn giới hạn ở lớp đáy. Hình 6: HSIL – vùng carcinôm tại chỗ: các tế bào nghịch sản chiếm trọn bề dày biểu mô, lớp tế bào bề mặt cũng có tế bào bất thường với nhân lớn, tăng sắc, méo mó: 1- Tế bào bề mặt có nhân tăng sắc méo mó; 2- Tăng phân bào, phân bào không còn giới hạn ở lớp đáy; 3- Nhân tế bào nghịch sản có kích thước lớn, tăng sắc, dị dạng, méo mó, trục nhân dựng đứng so với trục màng đáy.
Câu 37: Tiêu bản 10: U NHÚ DA Tiêu bản U nhú da minh họa cho tổn thương u lành tính của biểu mô. U nhú da – lâm sàng gọi là mụn cóc - là u lành tính xuất phát từ lớp biểu bì của da. Cơ chế bệnh sinh có liên quan với nhiễm virus HPV (human papilloma virus – virus sinh u nhú ở người). U nhú da xảy ra ở nhiều vùng da khác nhau trên cơ thể, ở mọi độ tuổi. Đại thể: U có kích thước nhỏ (đường kính khoảng 0,5 đến 1cm), nhô lên khỏi bề mặt da, gồm nhiều nhú nhỏ, giới hạn rõ với da xung quanh. (hình 1). Hình 1: U nhú da. U giới hạn rõ, đối xứng, gồm nhiều nhú nhỏ nhô lên bề mặt da. Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 38: Nhú biểu bì.
Câu 39: Biểu bì tăng sản: - Hiện tượng tăng gai. - Hiện tượng tăng sừng.
Câu 40: Trục liên kết mạch máu. Bắt đầu quan sát tiêu bản ở độ phóng đại nhỏ nhất, thấy mẫu sinh thiết lấy từ da, có biểu bì bình thường - là lớp biểu mô lát tầng sừng hóa (gồm lớp đáy, các lớp trung gian là các lớp tế bào gai, lớp hạt và lớp sừng) và lớp bì - là mô liên kết nằm bên dưới biểu bì (Hình 2). Ngoài ra còn nhìn thấy nang lông và tuyến bã, đổ ra ngoài qua một chỗ lõm của biểu bì. U nhú là phần biểu bì tăng sinh dầy lên so với biểu bì bình thường ở hai bên. Ở độ phóng đại nhỏ, thấy biểu bì tăng sinh dầy lên gồm nhiều lớp tế bào, đồng thời tạo thành các nhú, gọi là các nhú biểu bì (Hình 2). Các nhú chỉ phát triển trên bề mặt, hướng lên trên; do đó nếu gọi biểu bì bình thường hai bên u nhú là hai vai của tổn thương, thì toàn bộ các cấu trúc nhú của u đều nằm hoàn toàn ở phía trên đường kẻ đi ngang qua hai vai này, đây cũng là một đặc điểm chứng tỏ tính chất lành tính của u nhú (Hình 2). Quan sát một cấu trúc nhú, thấy nhú gồm một nhú biểu bì, được nâng đỡ bởi trục liên kết mạch máu (Hình 2,3). Nhú biểu bì là biểu bì tăng sinh nhiều lớp, tạo nhú, vẫn có đầy đủ các lớp như biểu bì bình thường (lớp đáy, lớp gai, lớp hạt, lớp sừng), nhưng tăng sản rõ nhất là lớp gai và lớp sừng (Hình 2,3). Với hiện tượng tăng gai, thấy các tế bào gai tăng lên nhiều lớp, nhiều hơn khoảng 2-3 lần so với bình thường, tế bào gai ở lớp trung gian là các tế bào có bào tương nhiều, hình đa diện, giữa các tế bào có các cầu liên bào để liên kết các tế bào với nhau (Hình 3). Với hiện tượng tăng sừng, thấy lớp sừng dày hơn bình thường, gồm nhiều lớp vẩy sừng màu hồng đậm chồng chất lên nhau (Hình 3). Trục liên kết mạch máu gồm mô sợi và các mạch máu, có thể có thấm nhập tế bào viêm. Đây là mô liên kết mạch máu được kéo lên từ mô liên kết của lớp bì (Hình 2,3). U nhú da là do tăng sinh tế bào của biểu bì lên nhiều lớp, gồm đầy đủ các lớp giống như biểu bì bình thường, có sự trưởng thành từ lớp đáy lên đến lớp sừng, cho biết đây là một u lành tính. Hình 2: U gồm nhiều nhú như các ngón tay nhô lên bề mặt da, nằm phía trên đường nối hai vai của tổn thương (- - -). Mỗi nhú ( ) cấu tạo bởi: 1- Nhú biểu bì; 2- Trục liên kết mạch máu. Nhú biểu bì do các lớp của biểu bì (biểu mô lát tầng sừng hóa) tăng sản tạo nhú, thấy rõ nhất là: 3- Hiện tượng tăng gai; 4- Hiện tượng tăng sừng. Hai vai của tổn thương: 5- Biểu bì bình thường xung quanh u; 6- Lớp bì. Hình 3: Nhú biểu bì do các lớp của biểu bì tăng sản tạo nhú: 1- Lớp đáy; 2- Lớp trung gian gồm các tế bào gai hình đa diện, nhiều bào tương, có cầu liên bào nối liền các tế bào với nhau; 3- Lớp hạt; 4- Lớp sừng. Hiện tượng tăng sản rõ nhất ở các lớp gai và lớp sừng: 5- Hiện tượng tăng gai; 6- Hiện tượng tăng sừng. Mô liên kết được kéo lên từ lớp bì giúp nâng đỡ và nuôi dưỡng nhú biểu bì, gọi là: 7- Trục liên kết mạch máu.
Câu 41: Tiêu bản 11: CARCINÔM TẾ BÀO GAI CỦA DA Tiêu bản Carcinôm tế bào gai của da minh họa cho tổn thương u ác tính xuất phát từ tế bào biểu mô. Carcinôm tế bào gai là u ác biệt hóa theo hướng tế bào gai; U nhú da là u lành tính cùng hướng biệt hóa. Carcinôm tế bào gai của da là u ác tính thường gặp của da, đứng hàng thứ hai trong các u ác tính của da. Trong carcinôm tế bào gai, tế bào u xuất phát từ một tế bào nguồn có khả năng sinh sản thuộc lớp đáy của biểu bì bị đột biến chuyển dạng trở thành tế bào u, tăng sinh ác tính. Carcinôm tế bào gai ở da diễn tiến từ tổn thương nghịch sản trong lớp biểu bì, đến carcinôm tại chỗ, sau đó phá vỡ màng đáy xâm lấn xuống mô đệm, trở thành carcinôm tế bào gai xâm lấn. Carcinôm tế bào gai của da gặp ở nam nhiều hơn nữ, thường ở người lớn tuổi, trên bất cứ vùng da nào của cơ thể, nhưng thường gặp nhất là vùng da lộ ra ánh sáng mặt trời và bị tổn thương do tác động của tia cực tím. Carcinôm tế bào gai còn có thể xảy ra trên nền các sẹo phỏng, các vết loét da lâu ngày, hoặc do hóa chất. Đại thể: Carcinôm tế bào gai ở giai đoạn tại chỗ có dạng dát đỏ đóng vẩy trên bề mặt. Carcinôm tế bào gai xâm lấn có dạng chồi sùi, bề mặt có nhiều vẩy sừng trắng, có vùng hoại tử xuất huyết màu nâu đen; hoặc carcinôm tế bào gai có dạng loét thâm nhiễm. Hình 1: Carinôm tế bào gai ở da vùng thái dương dạng chồi sùi, đóng vẩy sừng trắng (A); Carcinôm tế bào gai ở da dạng loét, thâm nhiễm (B). Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 42: Phân bào bất thường.
Câu 43: Phản ứng hóa sợi của mô đệm (quanh các đám tế bào u xâm nhập). Quan sát tiêu bản bằng mắt thường, thấy tổn thương có dạng gồ cao lên bề mặt so với da bình thường xung quanh (Hình 2). Bắt đầu quét nhanh tiêu bản ở độ phóng đại nhỏ, mẫu mô được phủ một phần bởi biểu mô lát tầng sừng hóa bình thường của da (Hình 2). Ở vị trí gồ cao lên bề mặt chính là mô u: có sự bất thường của biểu mô, từ bề mặt xâm nhập vào mô đệm bên dưới (Hình 2). Quan sát vùng mô u ở vật kính lớn hơn, thấy lớp biểu mô phủ trên bề mặt có các tế bào bất thường là các tế bào gai ung thư có nhân lớn méo mó, hạch nhân to rõ, tỷ lệ nhân trên bào tương tăng (Hình 3,4). Từ biểu mô phủ trên bề mặt, các tế bào gai ung thư xâm nhập vào mô đệm bên dưới (Hình 3,4). Đây là trường hợp carcinôm tế bào gai biệt hóa tốt nên tìm thấy được nhiều cấu trúc cầu sừng nằm giữa các đám tế bào gai ung thư trong mô đệm (Hình 3,4). Ở vật kính 40X, thấy các tế bào u có hình đa diện, nhiều bào tương màu hồng, các tế bào liên kết với nhau chặt chẽ bằng cầu liên bào; đồng thời các tế bào u cũng có khả năng biệt hóa tốt để tạo thành các cầu sừng. Cầu sừng và cầu liên bào là các bằng chứng cho biết tế bào u biệt hóa theo hướng tế bào gai (bắt chước biểu mô gai); tạo được cầu sừng chứng tỏ u biệt hóa tốt. Dễ dàng tìm thấy các phân bào và phân bào bất thường trong mô u (Hình 5). Mô đệm quanh đám tế bào u xâm nhập có phản ứng hóa sợi và thấm nhập tế bào viêm. Quan sát một vị trí khác trong mô u, thấy rõ các đám tế bào gai ung thư xâm nhập trong mô đệm. Có hiện tượng hoại tử tế bào u ở giữa một số đám tế bào ung thư, gọi là hiện tượng hoại tử trung tâm. Nhìn thấy phản ứng hóa sợi của mô đệm: mô đệm quanh đám tế bào u có nhiều nguyên bào sợi và sợi collagen hơn so với mô đệm bình thường (Hình 6,7). Hình 2: U có dạng khối gồ cao lên bề mặt da. 1- Các đám tế bào gai ung thư từ biểu bì xâm nhập vào mô đệm bên dưới (lớp bì); 2- Các đám tế bào gai ung thư xâm nhập mô đệm; 3- Rìa da bình thường quanh u. Hình 3: 1- Biểu mô lát tầng sừng hóa bình thường; 2- Biểu mô trên bề mặt của u có các tế bào gai ác tính có nhân lớn hạch nhân to rõ; 3- Các đám tế bào gai ung thư từ biểu mô bề mặt xâm nhập vào mô đệm; 4- Cầu sừng giữa đám tế bào gai ung thư xâm nhập mô đệm; 5- Mô đệm. Hình 4: 1- Biểu mô lát tầng sừng hóa bình thường; 2- Biểu mô trên bề mặt của u có các tế bào gai ác tính có nhân lớn hạch nhân to rõ; 3- Các đám tế bào gai ung thư từ biểu mô bề mặt xâm nhập vào mô đệm; 4- Cầu sừng giữa đám tế bào gai ung thư xâm nhập mô đệm; 5- Mô đệm. Hình 5: Tế bào ung thư biệt hóa theo hướng tế bào gai có hình đa diện, bào tương nhiều màu hồng: 1- Nhân lớn dị dạng, méo mó, hạch nhân to rõ; 2- Tỉ lệ phân bào cao và có nhiều phân bào bất thường; 3- Cầu sừng; 4- Cầu liên bào. Hình 6: 1- Đám tế bào gai ung thư xâm nhập mô đệm; 2- Hiện tượng hoại tử trung tâm; 3- Mô đệm có phản ứng hóa sợi có nhiều nguyên bào sợi và sợi collagen. Hình 7: 1- Đám tế bào gai ung thư xâm nhập mô đệm. Tế bào u có hình đa diện, bào tương nhiều, màu hồng; 2- Cầu liên bào; 3- Phân bào bất thường; 4- Hoại tử trung tâm; 5- Nguyên bào sợi trên nền sợi collagen.
Câu 44: Tiêu bản 12: SARCÔM SỢI BÌ LỒI Tiêu bản Sarcôm sợi bì lồi minh họa cho u giáp biên ác, xuất phát từ tế bào trung mô. Sarcôm sợi bì lồi là u phần mềm, xuất phát từ tế bào nguồn trung mô, biệt hóa theo hướng nguyên bào sợi. U nằm trong mô dưới da, là loại sarcôm thường gặp nhất của da; u được xếp vào nhóm u giáp biên ác do đặc điểm xâm lấn tại chỗ, tái phát nếu diện cắt còn tế bào u, nhưng tiềm năng di căn thấp. U có thể chuyển dạng ác tính thành sarcôm sợi. U thường gặp ở người trẻ hoặc trung niên, nam hơi nhiều hơn nữ; vị trí thường gặp là da thân mình và chi. Sarcôm sợi bì lồi phát triển chậm trong nhiều năm, khởi đầu có dạng mảng ở da, sau đó xuất hiện khối u nần lồi lên trên bề mặt da. Đại thể: U có dạng mảng xơ đỏ xâm lấn sâu, sau đó xuất hiện thêm khối cục, lồi lên bề mặt mảng (Hình 1); nhưng u cũng có thể có dạng khối cục lồi lên trên bề mặt da ngay từ đầu. U có mật độ chắc, mặt cắt màu xám trắng, kích thước từ 0,5 cm đến trên 10 cm. Hình 1: U dạng mảng xơ cứng, có khối cục u nần lồi lên trên bề mặt. Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 45: Tế bào u có dạng hình thoi, nhân hình bầu dục thuôn dài, bào tương màu hồng giới hạn không rõ.
Câu 46: Tế bào u tương đối đồng dạng, xếp thành các bó xoáy lốc, nằm trong mô dưới da, xâm lấn mô mỡ.
Câu 47: Tỉ lệ phân bào thấp.
Câu 48: Biểu bì, lớp bì và các phần phụ da bình thường phía trên khối u. Bệnh phẩm là mô u và mô da phía trên u. Bắt đầu quan sát tiêu bản ở độ phóng đại nhỏ, thấy mô da gồm có lớp biểu bì và lớp bì có các phần phụ của da như nang lông tuyến bã và tuyến mồ hôi; phía dưới mảnh da này là mô u (Hình 2). Khối u có kích thước khá lớn, ở độ phóng đại nhỏ thấy u có mật độ tế bào cao, xâm lấn mô mỡ dưới da và xâm lấn lên lớp bì sâu (Hình 2,3). Hình 2: 1- Da (Biểu bì, lớp bì và các phần phụ da) bình thường phía trên khối u; 2- U nằm trong mô dưới da; 3- Mô u xâm lấn mô mỡ dưới da, xâm lấn 1 phần lớp bì sâu của da. Quan sát vùng mô u ở vật kính 10X, thấy tế bào u có khuynh hướng xếp thành bó xoáy lốc (Hình 4). Xoáy lốc là hình ảnh từ một trung tâm điểm các bó tế bào chạy cuộn xoáy ra ngoài, giống như hình chong chóng. Xoáy lốc là kiểu sắp xếp đặc trưng của tế bào u trong sarcôm sợi bì lồi. Giữa các bó tế bào u có thể thấy một ít sợi collagen màu hồng và các mạch máu nhỏ (Hình 5). Rải rác trong mô u có vài phân bào (Hình 5). Mô u có mật độ tế bào cao, các tế bào tương đối đồng dạng. Tế bào u là các tế bào biệt hóa theo hướng nguyên bào sợi có dạng hình thoi, bào tương màu hồng giới hạn không rõ, nên khó xác định được ranh giới bào tương; nhân tế bào u hình bầu dục thuôn dài, nhiễm sắc chất hơi thô, hạch nhân nhỏ (Hình 5). Hình 3: 1- Biểu bì bình thường; 2- Lớp bì bình thường; 3- Nang lông – tuyến bã; 4- Tuyến mồ hôi; 5- Mô u xâm lấn mô mỡ dưới da và một phần lớp bì sâu. Hình 4: 1- Các tế bào u xếp thành các bó xoáy lốc; 2- Tế bào mỡ (mô mỡ bị u xâm lấn); 3- Hình ảnh xoáy lốc giống như cái chong chóng. Hình 5: 1- Mật độ tế bào u cao. Tế bào u tương đối đồng dạng. Tế bào u hình thoi, nhân hình bầu dục thuôn dài, nhiễm sắc chất hơi thô, hạch nhân nhỏ; 2- Tế bào u xếp thành bó như hình xoáy lốc; 3- Sợi collagen giữa các bó tế bào u; 4- Mạch máu nhỏ giữa các bó tế bào u; 5- Rải rác có ít phân bào trong mô u.
Câu 49: Tiêu bản 13: LIMPHÔM KHÔNG HODGKIN LOẠI TẾ BÀO LỚN Ở AMIĐAN Tiêu bản Limphôm không Hodgkin loại tế bào lớn ở amiđan minh họa cho u ác tính xuất phát từ tế bào dòng limphô. Amiđan (hạch nhân khẩu cái) là các cơ quan limphô ngoại vi, tham gia vào các đáp ứng miễn dịch của cơ thể chống lại kháng nguyên lạ xâm nhập. U ở mô limphô chỉ có u ác tính, không có u lành tính. Limphôm không Hodgkin là u ác tính xuất phát từ một tế bào dòng limphô ở một giai đoạn biệt hóa trưởng thành bất kỳ, chuyển dạng ác tính, tăng sinh đơn dòng tạo thành khối u. Các limphôm khác biệt hoàn toàn với u ác tính nguồn gốc biểu mô hoặc trung mô về đặc điểm bệnh lý, hình thái vi thể và điều trị. Do đó cần thiết phải phân biệt limphôm với các loại u ác tính khác. Limphôm amiđan thường gặp ở người lớn, nhưng cũng có thể ở trẻ em. Amiđan sưng to, gây khó thở hoặc đau họng; limphôm có thể lan ra hạch, tạo thành khối hạch to ở vùng cổ. Đại thể: Amiđan to ra, bề mặt trơn láng, mật độ chắc, mặt cắt đặc đồng nhất, có màu hồng nhạt như thịt cá (Hình 1). Hình 1: Limphôm không Hodgkin ở amiđan: amiđan trái sưng to, bề mặt trơn láng, có vài vết loét nhỏ (A); mặt cắt amiđan đặc, đồng nhất, màu hồng nhạt, trơn láng như thịt cá (B). Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 50: Cấu trúc amiđan bị xóa.
Câu 51: Tăng sinh đơn dạng và thấm nhập lan tỏa các tế bào limphô kích thước lớn giống nguyên bào B ngoài nang (tế bào lớn gấp 5 lần limphô bào, nhân lớn hình bầu dục, có 1-2 hạch nhân to).
Câu 52: Tỉ lệ phân bào cao. Limphôm không Hodgkin xuất phát từ một tế bào dòng limphô chuyển dạng ác tính, tăng sinh đơn dòng, do đó mô u có hình ảnh đơn dạng một loại tế bào có hình dạng giống hệt tế bào đầu tiên chuyển dạng ác tính. Bắt đầu quan sát tiêu bản ở độ phóng đại nhỏ nhất có thể thấy amiđan mất cấu trúc bình thường. Amiđan là một mô limphô niêm mạc, cấu tạo bình thường bao gồm biểu mô lát tầng không sừng hóa phủ bên trên một mô limphô có tổ chức có các nang limphô sơ cấp và thứ cấp và các limphô bào ở vùng gian nang. Mẫu mô này mất cấu trúc bình thường. Bên dưới biểu mô phủ, mô limphô bình thường đã bị xóa mất, thay thế vào đó là các tế bào limphô kích thước lớn tăng sinh đơn dạng, đồng dạng (Hình 2). Ở vật kính 10X và 40X, thấy các tế bào limphô tăng sinh ác tính là những tế bào kích thước lớn (lớn gấp
Câu 53: lần limphô bào nhỏ), nhân tế bào lớn, có hình bầu dục và có một đến hai hạch nhân to rõ nằm giữa nhân, giống
Câu 54: Tiêu bản 14: U QUÁI TRƯỞNG THÀNH CỦA BUỒNG TRỨNG Tiêu bản U quái trưởng thành của buồng trứng là một ví dụ của u xuất phát từ tế bào mầm, biệt hóa theo hướng mô trong phôi. U quái trưởng thành của buồng trứng cấu tạo bởi nhiều thành phần cấu trúc mô khác nhau, xuất phát từ ba lá phôi, sắp xếp một cách lộn xộn, không thành cơ quan. Đây là loại u tế bào mầm thường gặp nhất ở buồng trứng. U quái trưởng thành chiếm 95% các u quái của buồng trứng, thường gặp ở độ tuổi 20-40 tuổi. U thường không gây triệu chứng, chỉ được phát hiện qua siêu âm, trừ phi u lớn, có thể gây đau, xoắn, vỡ. U quái trưởng thành diễn tiến lành tính, chỉ có 1 tỉ lệ rất nhỏ u có thể chuyển dạng ác tính và trở thành u quái trưởng thành hóa ác. Đại thể: U quái trưởng thành thường gặp ở 1 bên buồng trứng, u ở 2 bên chỉ chiếm khoảng 10-15% trường hợp. U có kích thước trung bình khoảng 15 cm, dạng bọc, bề mặt láng, bên trong có chứa tóc và chất bã. Vách u mỏng, u có các nốt đặc chứa các mô như răng, xương (Hình 1). Hình 1 1- U quái trưởng thành dạng bọc, chứa tóc; 2- Nốt đặc chứa răng, xương. Vi thể: Mục tiêu cần tìm Các thành phần mô xuất phát từ ba lá phôi:
Câu 55: Ngoại bì: biểu bì, nang lông, tuyến bã. Ngoại bì thần kinh: Mô thần kinh đệm.
Câu 56: Trung bì: xương, sụn, mỡ.
Câu 57: Nội bì: biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển; biểu mô tuyến tiết nhầy. Tiêu bản có 2 mảnh mô. Trên các mảnh mô đều có các thành phần cấu trúc mô học xuất phát từ ngoại bì, trung bì và nội bì (Hình 2). Quan sát các mẫu mô ở độ phóng đại nhỏ, có thể nhìn thấy mô u có nhiều bọc nhỏ được lót bởi biểu mô lát tầng sừng hóa, có nhiều vẩy sừng bong ra rớt vào lòng bọc, bên dưới biểu mô này có nhiều cấu trúc nang lông – tuyến bã. Đây chính là biểu bì da và phần phụ (Hình 3). Các loại mô sắp xếp lộn xộn nên kế cận bên biểu mô lát tầng sừng hóa này thấy có cấu trúc xương và sụn (Hình 4). Mô xương là các bè xương có bờ nham nhở, sắc cạnh, bắt màu đỏ, nếu có lắng đọng canxi sẽ bắt màu tím, trong bè xương có các hốc nhỏ chứa tế bào xương; mô sụn là các ổ sụn có bờ tròn đều, bắt màu xanh tím, bên trong cũng có các hốc nhỏ chứa tế bào sụn (Hình 4). Quan sát tiếp một quang trường khác, thấy mô thần kinh đệm gồm chất nền thần kinh màu hồng, dạng lưới rất mịn, trên đó là các tế bào thần kinh đệm có nhân tròn nhỏ đậm màu bằng với kích thước của limphô bào (Hình 5). Biểu mô trụ có lông chuyển và biểu mô tuyến tiết nhầy có thể nằm liên tục với nhau, cùng lót một khoang trống (Hình 6). U quái trưởng thành có tất cả các cấu trúc mô học đều là mô trưởng thành. Hình 2: Mô u cấu tạo bởi các thành phần xuất phát từ ba lá phôi: 1- Ngoại bì: biểu bì và phần phụ da; 2- Ngoại bì thần kinh: mô thần kinh đệm; 3- Trung bì: xương, sụn; 4- Nội bì: biểu mô trụ có lông chuyển. Hình 3: 1- Các bọc nhỏ lót lớp biểu mô lát tầng sừng hóa, các vẩy sừng bong rớt vào lòng bọc; 2- Bên dưới biểu mô có các nang lông. Hình 4: 1- Bè xương có bờ nham nhở, bắt màu hồng, có màu tím khi có lắng đọng canxi, có các hốc chứa tế bào xương; 2- Sụn có bờ tròn, bắt màu xanh tím, có các hốc chứa tế bào sụn; 3- Mô mỡ; 4- Biểu bì; 5- Nang lông – tuyến bã. Hình 5: 1- Mô thần kinh đệm: chất nền thần kinh dạng lưới mịn bắt màu hồng, trên đó có các tế bào thần kinh đệm nhân tròn nhỏ đậm màu; 2- Bè xương nằm cạnh mô thần kinh đệm; 3- Biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển nằm cạnh mô thần kinh đệm. Hình 6: 1- Biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển; 2- Biểu mô trụ tiết nhầy; 3- Cơ trơn Loạt 4 tiêu bản cuối cùng của chương trình thực tập gồm U TUYẾN ỐNG RUỘT GIÀ, CARCINÔM TUYẾN RUỘT GIÀ XÂM NHẬP, CARCINÔM TUYẾN RUỘT GIÀ DI CĂN HẠCH, CARCINÔM TUYẾN RUỘT GIÀ DI CĂN PHỔI sẽ được lấy làm ví dụ minh họa cho “Quá trình diễn tiến tự nhiên của u – ung thư”.
Câu 58: Tiêu bản 15: U TUYẾN ỐNG RUỘT GIÀ U tuyến ống là một u lành tính, xuất phát từ biểu mô tuyến của niêm mạc ruột già. Các u tuyến ở ruột già thường có dạng polyp nên còn được gọi là polyp tuyến. Xuất độ u tuyến tăng dần theo tuổi; từ khoảng 20% ở người nhỏ hơn 40 tuổi, tăng lên đến 50% ở người trên 60 tuổi. Tỉ lệ mắc bệnh của nam và nữ xấp xĩ bằng nhau. U tuyến hình thành do hoạt động tăng sinh và nghịch sản của biểu mô ruột. Vì vậy có thể xem u tuyến là 1 tổn thương tiền ung thư. Tuy nhiên, không phải tất cả các u tuyến đều diễn tiến thành ung thư. Các nghiên cứu cho thấy tầm soát bằng soi ruột già và cắt bỏ các u tuyến làm giảm tỉ lệ carcinôm tuyến của ruột già. Vì vậy, nên thực hiện tầm soát để có thể phát hiện sớm bệnh, ngăn chặn bệnh diễn tiến thành ung thư. U tuyến thường không gây triệu chứng lâm sàng; trừ phi u lớn có thể gây thiếu máu do chảy máu ẩn. Về mặt mô học, có 3 loại u tuyến, đó là: u tuyến ống, u tuyến nhánh và u tuyến ống nhánh, trong đó u tuyến ống là loại thường gặp nhất, chiếm 90% tổng số u tuyến ruột già. Khả năng hóa ác cao nhất xảy ra ở u tuyến nhánh, thấp nhất ở u tuyến ống. Đại thể: U tuyến ống ở ruột già có thể chỉ đơn độc một u; hoặc có nhiều u. U có kích thước nhỏ, thường không lớn quá 2,5cm. U có cuống nhỏ hoặc cuống rộng, đính lên niêm mạc ruột già. Bề mặt u trơn láng (Hình 1). Hình 1: U tuyến ống thường có kích thước nhỏ, có cuống đính lên niêm mạc ruột. Bề mặt u trơn láng. Vi thể: Mục tiêu cần tìm U dạng polýp có cuống
Câu 59: Biểu mô tuyến ruột tăng sản, nghịch sản ở đầu polýp.
Câu 60: Niêm mạc ruột bình thường ở cuống polýp; lõi sợi của cuống polýp.
Câu 61: Thành ruột bình thường quanh u. Quan sát tiêu bản ở vật kính nhỏ, thấy mẫu mô là một lát cắt ngang qua một nửa chu vi của ống tiêu hóa. Có thể thấy các lớp của thành ruột: niêm mạc, dưới niêm mạc, cơ trơn và thanh mạc (Hình 2). Trên đoạn ruột này này có khá nhiều cấu trúc dạng polýp, ít nhất là có 6 polýp có cuống, chồi lên từ lớp niêm mạc nhô vào trong lòng ruột, chân polýp đính lên thành ruột (Hình 2). Quan sát một cấu trúc dạng polýp – đây chính là một u tuyến ống của ruột già. U có dạng polýp, gồm (1) một cuống dài và hẹp và (2) đầu polýp (Hình 3). Đầu polýp là vị trí u thực sự, có các tuyến ruột tăng sản – nghịch sản (Hình 2,3,4,5). Cuống polýp đính lên trên thành ruột, gồm có một lõi sợi mô liên kết được kéo lên từ mô liên kết của lớp dưới niêm mạc; đồng thời niêm mạc ruột bình thường cũng được kéo lên theo, phủ lên trên lõi sợi, ngăn cách với mô liên kết của lõi sợi bởi một dải cơ niêm mỏng (Hình 3,6). Quan sát đầu polýp, các tuyến ruột tăng sản tăng số lượng, có dạng ống, hình tròn hoặc hơi ngoằn ngoèo; giữa các ống tuyến là mô đệm có nhiều mạch máu và thấm nhập nhiều tế bào viêm mạn tính (Hình 4,5). Ở vật kính 40X, thấy các tế bào biểu mô lót ống tuyến là những tế bào nghịch sản: nhân lớn, tăng sắc, nhiễm sắc chất thô, trục nhân dựng đứng (không còn nằm sát đáy như tế bào tuyến Lieberkühn bình thường). Các ống tuyến nghịch sản chỉ còn rải rác một ít tế bào đài tiết nhầy, tế bào tăng hoạt động phân bào (tỉ lệ phân bào tăng) (Hình
Câu 62: Tiêu bản 16: CARCINÔM TUYẾN RUỘT GIÀ XÂM NHẬP Theo thống kê của GLOBOCAN năm 2020, tại Việt Nam, ung thư đại - trực tràng đứng hàng thứ năm trong các ung thư thường gặp, chiếm 8,6% tổng số ca ung thư mới mắc. Trên thế giới, ung thư đại tràng xếp hàng thứ 4 và trực tràng xếp hàng thứ 7 trong các ung thư thường gặp nhất. Ung thư ruột già là u ác tính thường gặp nhất của đường tiêu hóa. Phần lớn các khối u nằm ở đại tràng sigma và trực tràng. Bệnh diễn tiến âm thầm nên thường bị phát hiện trễ. Bệnh có thể gây thiếu máu do chảy máu ẩn, hoặc gây thay đổi thói quen đường ruột, hoặc gây đau quặn và khó chịu vùng hố chậu trái. Trong ung thư ruột già, loại mô học carcinôm tuyến chiếm 98% các trường hợp. Các yếu tố tiên lượng xấu bao gồm giai đoạn trễ, độ mô học cao, xâm nhập mạch máu – mạch limphô, bờ phẫu thuật còn mô u. Điều trị bao gồm phẫu thuật và hóa trị. Đại thể: Carcinôm tuyến ruột già có dạng chồi sùi, dạng loét hoặc dạng thâm nhiễm cứng lan vòng theo chu vi ruột, gây chít hẹp lòng ruột. U ở đại tràng phải thường có dạng chồi sùi (Hình 1), u ở đại tràng trái thường có dạng thâm nhiễm vòng quanh thành ruột. Hình 1: Carcinôm tuyến ở đại tràng sigma, khối u dạng sùi loét, bề mặt xuất huyết, hoại tử. Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 63: Tế bào tuyến ung thư có hình trụ, nhân dị dạng, sắp xếp thành cấu trúc tuyến dạng ống hoặc dạng sàng, xâm nhập các lớp thành ruột.
Câu 64: Hoại tử trong lòng ống tuyến ung thư. Phản ứng hóa sợi của mô đệm.
Câu 65: Tỉ lệ phân bào tăng. Phân bào bất thường.
Câu 66: Tuyến Lieberkühn bình thường. Bệnh phẩm là một phần mô u và thành ruột bình thường kế cận mô u (Hình 2,3). Quan sát ở độ phóng đại nhỏ, thấy thành ruột bình thường có 4 lớp: niêm mạc, dưới niêm mạc, cơ và thanh mạc (Hình 2,3). Mô u là khối chồi gồ cao lên khỏi bề mặt niêm mạc, gồm các cấu trúc tuyến méo mó, tế bào u dị dạng, nhân tăng sắc, làm cho mô u có màu tím hơn vùng niêm mạc bình thường kế cận (Hình 2,3). Trong mô u, các tuyến ác tính xuất phát từ lớp niêm mạc, xâm nhập sâu vào các lớp dưới niêm, lớp cơ (Hình 2,3), vừa qua khỏi lớp cơ để vào lớp mô đệm dưới thanh mạc chính thức (thanh mạc chính thức là một lớp tế bào trung – biểu mô (trung mạc) có nhân dẹt và đậm màu; giữa thanh mạc chính thức và lớp cơ thường có một lớp mô đệm gọi là mô đệm dưới thanh mạc) Quan sát ở độ phóng đại lớn hơn, bắt đầu từ niêm mạc, thấy các tế bào u dị dạng xếp cấu trúc tuyến dạng ống hoặc dạng sàng xâm nhập từ lớp niêm mạc, phá hủy cơ niêm, xâm nhập đến lớp dưới thanh mạc (Hình 4). Trong lòng các tuyến ung thư có chất hoại tử do tế bào u bị chết; quanh các tuyến ung thư xâm nhập có phản ứng hóa sợi của mô đệm (Hình 4,5). Ở độ phóng đại lớn hơn đã có thể thấy rõ các tuyến ung thư có dạng ống hoặc dạng sàng xâm nhập lớp dưới niêm mạc và lớp cơ thành ruột (Hình 5). Tuyến ung thư dạng sàng là cấu trúc tuyến có nhiều lòng to nhỏ giống như một cái sàng có nhiều lỗ to nhỏ (Hình 5,6). Trong lòng các tuyến ung thư thường có chất hoại tử gồm những mảnh vụn bào tương ái toan đậm và các mảnh vỡ của nhân (Hình 5,6). Tế bào tuyến ung thư hình trụ, có nhân méo mó, to nhỏ không đều, nhiễm sắc chất thô, một số có hạch nhân to rõ, chồng chất lên nhau thành nhiều lớp tế bào; tỉ lệ phân bào tăng và có nhiều phân bào bất thường (Hình 6) Hình 2: Thành ruột kế cận mô u: 1- Các lớp của thành ruột bình thường: niêm mạc, dưới niêm mạc, cơ (vòng và dọc) và thanh mạc. U dạng chồi cao lên khỏi bề mặt niêm mạc: 2- Tuyến ung thư xâm nhập trong lớp niêm mạc, phá vỡ cơ niêm xâm nhập vào lớp dưới niêm mạc; 3- Tuyến ung thư xâm nhập hết lớp cơ thành ruột; 4- Cơ thành ruột. Hình 3: Thành ruột bình thường kế cận mô u: 1- Niêm mạc; 2- Dưới niêm mạc; 3- Cơ; 4- Thanh mạc. Mô u: 5- Tuyến ung thư xâm nhập lớp dưới niêm mạc; 6- Phản ứng hóa sợi của mô đệm. Hình 4: Thành ruột bình thường: 1- Các tuyến Lieberkühn bình thường của lớp niêm mạc; 2- Cơ niêm; 3- Lớp dưới niêm mạc; 4- Lớp cơ vòng; 5- Lớp cơ dọc; 6- Lớp thanh mạc. Mô u: 7- Tế bào tuyến ung thư xếp cấu trúc dạng ống xâm nhập mô đệm; 8- Tế bào tuyến ung thư xếp cấu trúc dạng sàng xâm nhập mô đệm; 9- Hoại tử trong lòng ống tuyến; 10- Phản ứng hóa sợi của mô đệm. Hình 5: Tuyến ung thư xâm nhập lớp dưới niêm mạc (ảnh trên): 1- Tuyến ung thư dạng sàng; 2- Phản ứng hóa sợi của mô đệm. Tuyến ung thư xâm nhập lớp cơ (ảnh dưới): 3- Tuyến ung thư dạng sàng; 4- Hoại tử trong lòng ống; 5- Cơ trơn thành ruột bị tuyến ung thư xâm nhiễm; 6- Tuyến ung thư xâm nhập hết lớp cơ, vào lớp mô đệm dưới thanh mạc. Hình 6: 1- Tuyến ung thư dạng sàng xâm nhập; 2- Tế bào tuyến ung thư có nhân lớn, dị dạng, nhiễm sắc chất thô; 3- Tỉ lệ phân bào cao, phân bào bất thường; 4- Hoại tử trong lòng ống; 5- Phản ứng hóa sợi của mô đệm: nhiều nguyên bào sợi tăng sản nằm trên nền sợi collagen.
Câu 67: Tiêu bản 17: CARCINÔM TUYẾN RUỘT GIÀ DI CĂN HẠCH Tiêu bản Carcinôm tuyến ruột già di căn hạch minh họa cho quá trình phát triển tự nhiên của u ác tính: xâm nhập và di căn Hạch nằm trên đường đi của dòng bạch huyết dẫn lưu về từ các cơ quan. Khi ung thư xảy ra ở các cơ quan, nhất là đối với các carcinôm và mêlanôm, tế bào ung thư có thể xâm nhập vào các mạch bạch huyết trong mô - cơ quan, sau đó theo dòng bạch huyết đi về hạch. Tế bào ung thư có thể dừng lại ở hạch, phát triển lên tạo thành một khối u mới - gọi là ung thư di căn đến hạch. Trong thực hành lâm sàng, đánh giá hạch di căn trong các ung thư giúp xác định giai đoạn bệnh, nhằm lựa chọn điều trị phù hợp. Tiêu bản carcinôm tuyến ruột già di căn hạch theo sau tiêu bản carcinôm tuyến ruột già xâm nhập là một ví dụ về diễn tiến của u ác tính: XÂM NHẬP và DI CĂN. Khi di căn đến hạch, tế bào ung thư xâm nhập, phá hủy mô hạch bình thường, phát triển và chiếm chỗ trong nhu mô hạch. Tế bào u trong ổ di căn hạch có hình thái giống với ổ ung thư tại vị trí nguyên phát. Đại thể: Hạch di căn có đường kính từ 0,5 cm đến
Câu 68: hoặc 3 cm; mật độ cứng chắc hoặc mềm bở; mặt cắt trắng sượng (Hình 1). Hình 1: Carcinôm tuyến trực tràng xâm nhiễm (*), di căn vào hạch trong mô mỡ quanh trực tràng (mũi tên). Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 69: Đám tế bào tuyến ung thư sắp xếp thành cấu trúc dạng ống hoặc dạng sàng, xâm nhập mô hạch.
Câu 70: Hiện tượng hoại tử u. Phản ứng hóa sợi của mô đệm.
Câu 71: Mô hạch bình thường còn sót lại. Bắt đầu với vật kính 4X, quét nhanh tiêu bản. Bệnh phẩm là một hạch limphô, có vỏ bao sợi bao quanh, bên trong là nhu mô hạch – đây là mô limphô nên có màu tím (Hình 2). Trên nền mô limphô của hạch, thấy có nhiều đám tế bào lạ xếp thành cấu trúc tuyến có lòng rõ, xâm nhập và phá hủy cấu trúc mô hạch. Một vùng vỏ bao sợi của hạch cũng bị phá hủy, các cấu trúc tuyến xâm nhập ra ngoài mô hạch (Hình 2,3). Những đám tế bào lạ này chính là các đám tế bào tuyến ung thư di căn hạch. Ở độ phóng đại lớn hơn (vật kính 10X và 40X), thấy các tế bào xâm nhập trong mô hạch có nhân tăng sắc, méo mó, dị dạng, xếp thành các cấu trúc tuyến. Những đặc điểm này cho biết đây là những tế bào biểu mô tuyến ác tính (Hình 4). Các tế bào tuyến có hình trụ, xếp thành cấu trúc dạng ống hoặc dạng sàng. Cấu trúc dạng sàng là một đám tế bào u có chứa nhiều lòng nhỏ. Trong lòng các cấu trúc tuyến có đám chất hoại tử u là những mảnh bào tương tế bào u bị vỡ, có dạng hạt, bắt màu ái toan và những mảnh nhân vỡ bắt màu tím đậm (Hình 3,4). Xung quanh các đám tuyến ung thư xâm nhập có phản ứng hóa sợi của mô đệm - là mô sợi tăng sinh có nhiều nguyên bào sợi và sợi collagen (Hình 4). Nhu mô hạch còn lại có mô limphô và các nang limphô thứ cấp (Hình 2,3). Hình 2: 1- Mô hạch còn lại: các nang limphô thứ cấp ở vùng vỏ và mô limphô vùng cận vỏ; 2- Dân số tế bào lạ trong mô hạch, xâm nhập phá hủy nhu mô hạch. Các tế bào lạ (tế bào u) xếp cấu trúc tuyến; 3- Tế bào u xâm nhập, phá vỡ vỏ bao hạch;4- Hiện tượng hoại tử u; 5- Phản ứng hóa sợi quanh các đám tế bào u. Hình 3: 1- Vỏ bao sợi của hạch; 2- Nhu mô hạch còn lại; 3- Các tế bào tuyến ác tính xâm nhập, phá hủy nhu mô hạch, phá hủy vỏ bao hạch; 4- Đám tế bào tuyến ung thư xếp cấu trúc dạng ống hoặc dạng sàng, lòng tuyến có chất hoại tử; 5- Hiện tượng hoại tử u. Hình 4: 1- Tế bào u có hình trụ, nhân dị dạng, xếp thành cấu trúc dạng ống; 2- Đám tế bào u xếp cấu trúc dạng sàng; 3- Phản ứng hóa sợi của mô đệm; 4- Hoại tử u; 5- Nguyên bào sợi.
Câu 72: Tiêu bản 18: CARCINÔM TUYẾN RUỘT GIÀ DI CĂN PHỔI Tiêu bản Carcinôm tuyến ruột già di căn phổi minh họa cho di căn theo đường máu đến cơ quan xa của u ác tính. Có thể xem di căn đến phổi là một diễn tiến tiếp theo của carcinôm tuyến ruột già, sau khi di căn hạch. Trong quá trình phát triển tự nhiên của u ác tính như các carcinôm, tế bào u thường xâm nhập và di căn theo đường bạch huyết đến các hạch vùng trước, sau đó mới di căn theo đường máu đến các cơ quan xa, có thể liên quan với sự thông nối giữa hệ bạch huyết và hệ tuần hoàn (ống ngực đổ vào hội lưu tĩnh mạch cảnh trong trái và tĩnh mạch dưới đòn trái). Khoảng 5-50% các trường hợp carcinôm tuyến ở ruột già cho di căn đến phổi, tạo ra nhiều ổ ung thư thứ phát cả hai bên phổi. Đặc điểm vi thể của ổ di căn ở phổi thường giống với u nguyên phát ở ruột già Đại thể: Các ổ ung thư thứ phát nằm rải rác trong nhu mô phổi hai bên, giới hạn khá rõ, mặt cắt không đồng nhất do có nhiều vùng xuất huyết, hoại tử, mật độ u mềm bở (Hình 1). Hình 1: Ổ ung thư di căn nằm ngay dưới màng phổi, giới hạn tương đối rõ, mặt cắt không đồng nhất, có vùng hoại tử xuất huyết. Vi thể: Mục tiêu cần tìm
Câu 73: Đám tế bào tuyến ung thư sắp xếp thành cấu trúc dạng ống hoặc dạng sàng, xâm nhập mô phổi.
Câu 74: Hiện tượng hoại tử u. Phản ứng hóa sợi của mô đệm.
Câu 75: Mô phổi bình thường: các phế nang và đại thực bào phế nang. Bắt đầu với vật kính 4X quét nhanh qua tiêu bản để xác định vùng mô u di căn đến phổi và mô phổi bình thường còn lại. Mẫu mô chỉ có một ít mô phổi bình thường. Mô u di căn đến phổi được bao quanh bởi một dải mô sợi, là vùng mô phổi bị phá hủy và thay thế bằng mô xơ (Hình 2). Nhìn thấy các phế nang trong vùng mô phổi bình thường, kế cận là một vùng xơ hóa thấm nhập nhiều tế bào viêm. Mô u có các cấu trúc ống tuyến, có hiện tượng hoại tử u lan rộng (Hình 2). Quan sát đám tuyến ung thư di căn đến phổi ở vật kính 10X và 40X, thấy các tế bào ung thư sắp xếp tạo cấu trúc ống tuyến có dạng ống hoặc dạng sàng (Hình 3,4), trong lòng tuyến có chất hoại tử (Hình 4). Đám tuyến ung thư xâm nhập phá hủy mô phổi, kích thích phản ứng hóa sợi và thấm nhập tế bào viêm trong mô đệm (Hình 3,4). Đặc điểm của tế bào u có thể gợi ý nguồn gốc từ ruột già: tế bào u có hình trụ, nhân dị dạng, xếp thành ống tuyến hoặc hòa nhập thành dạng sàng, trong lòng có chất hoại tử (Hình 4). Mô phổi còn lại kến cận mô u bị viêm, vách phế nang thấm nhập tế bào viêm, lòng phế nang có ít dịch phù và hồng cầu (Hình 5). Hình 2: 1- Mô phổi “bình thường” còn lại: các phế nang và đại thực bào phế nang, kế cận là mô viêm, xơ hóa; 2- Các đám tuyến ung thư xâm nhập, phá hủy nhu mô phổi. Hoại tử u lan rộng; 3- Tế bào tuyến ung thư xếp cấu trúc dạng ống hoặc dạng sàng; 4- Hoại tử u; 5- Dải mô xơ bao quanh mô u, ngăn cách mô u với mô phổi còn lại. Hình 3: 1- Đám tế bào tuyến ung thư xếp cấu trúc dạng ống; 2- Đám tế bào tuyến ung thư xếp cấu trúc dạng sàng; 3- Hoại tử u; 4- Mô đệm có phản ứng hóa sợi và thấm nhập nhiều tế bào viêm. Hình 4: 1- Đám tế bào tuyến ung thư xếp cấu trúc dạng sàng. Tế bào tuyến ung thư hình trụ. Nhân dị dạng, tăng sắc, nhiễm sắc chất thô; 2- Hoại tử u; 3- Mô đệm có phản ứng hóa sợi và thấm nhập nhiều tế bào viêm; 4- Phân bào của tế bào u; 5- Nguyên bào sợi trong mô sợi tăng sinh phản ứng. Hình 5: 1- Phế nang. Lòng phế nang có ít dịch phù và hồng cầu; 2- Vách phế nang thấm nhập tế bào viêm; 3- Đại thực bào phế nang; 4- Màng phổi. DANH SÁCH MỤC TIÊU
Câu 76: TĂNG SẢN CỤC TUYẾN TIỀN LIỆT Cấu trúc: Tuyến ống – túi tăng sản / Tuyến ống – túi tăng sản giãn rộng Cấu trúc: Mô đệm sợi – cơ trơn tăng sản Cấu trúc: Thể amylacea Hình ảnh bệnh lý *: Tăng sản cục tuyến tiền liệt
Câu 77: HẠCH NHIỄM CARBON Tế bào: Đại thực bào ứ đọng carbon Tế bào: Mô bào xoang Cấu trúc: Xoang bạch huyết tăng sản, dãn rộng Cấu trúc: Mô limphô vùng vỏ và vùng cận vỏ bị chèn ép Hình ảnh bệnh lý *: Hạch nhiễm carbon
Câu 78: CHUYỂN SẢN GAI CỔ TỬ CUNG Cấu trúc: Biểu mô tuyến trụ đơn tiết nhầy của vùng lộ tuyến Cấu trúc: Biểu mô chuyển sản gai chưa trưởng thành Cấu trúc: Biểu mô chuyển sản gai trưởng thành Hình ảnh bệnh lý *: Chuyển sản gai cổ tử cung
Câu 79: VIÊM RUỘT THỪA CẤP Chất: Dịch xuất thanh huyết / dịch xuất xuất huyết / dịch xuất tơ huyết / dịch xuất mủ Tế bào: Bạch cầu đa nhân trung tính Hiện tượng: Sung huyết Hiện tượng: Hoại tử niêm mạc Hiện tượng: Thấm nhập bạch cầu đa nhân trung tính Hình ảnh bệnh lý *: Viêm ruột thừa cấp
Câu 80: VIÊM LOÉT DA MẠN TÍNH Tế bào: Limphô bào / Tương bào / Đại thực bào Tế bào: Nguyên bào sợi Cấu trúc: Mạch máu tân sinh Hình ảnh bệnh lý *: Viêm loét da mạn tính
Câu 81: VIÊM LAO HẠCH Chất: Hoại tử bã đậu Tế bào: Tế bào dạng biểu mô / Đại bào Langhans Cấu trúc: Nang lao Cấu trúc: Viền limphô bào – tương bào Cấu trúc: Nang limphô thứ cấp (của mô limphô còn sót lại) Hình ảnh bệnh lý *: Viêm lao hạch
Câu 82: SẸO LỒI Tế bào: Nguyên bào sợi Cấu trúc: Bó sợi collagen tăng sinh Cấu trúc: Bó sợi hyalin hóa Hình ảnh bệnh lý *: Sẹo lồi
Câu 83: MÔ TỤY LẠC CHỖ Ở THÀNH DẠ DÀY Cấu trúc: Nang tuyến tụy ngoại tiết / Ống bài xuất Cấu trúc: Tiểu đảo tụy nội tiết Langerhans Cấu trúc: Mô tuyến tụy lạc chỗ trong lớp dưới niêm / lớp cơ của thành dạ dày Hình ảnh bệnh lý *: Mô tụy lạc chỗ ở thành dạ dày
Câu 84: LSIL - HSIL CỔ TỬ CUNG Tế bào: Tế bào rỗng Cấu trúc: Biểu mô LSIL Cấu trúc: Biểu mô HSIL Cấu trúc: Biểu mô lát tầng không sừng hóa (bình thường của cổ ngoài cổ tử cung) Hình ảnh bệnh lý *: LSIL / HSIL
Câu 85: U NHÚ DA Cấu trúc: Nhú biểu bì Cấu trúc: Trục liên kết mạch máu Hiện tượng: Tăng gai / tăng sừng Hình ảnh bệnh lý *: U nhú da
Câu 86: CARCINÔM TẾ BÀO GAI CỦA DA Cấu trúc: Đám tế bào gai ung thư xâm nhập mô đệm Cấu trúc: Cầu sừng / cầu liên bào Hiện tượng: Hoại tử trung tâm Hiện tượng: Phân bào bất thường Hiện tượng: Phản ứng hóa sợi của mô đệm (quanh đám tế bào u) Hình ảnh bệnh lý *: Carcinôm tế bào gai của da
Câu 87: SARCÔM SỢI BÌ LỒI Tế bào: Tế bào u tương đối đồng dạng trong sarcôm sợi bì lồi Cấu trúc: Tế bào u xếp thành các bó xoáy lốc Cấu trúc: Biểu bì / lớp bì / phần phụ da bình thường Hiện tượng: Mô u xâm lấn mô mỡ dưới da Hình ảnh bệnh lý *: Sarcôm sợi bì lồi
Câu 88: LIMPHÔM KHÔNG HODGKIN LOẠI TẾ BÀO LỚN CỦA AMIĐAN Cấu trúc: Biểu mô lát tầng không sừng hóa của amiđan Hiện tượng: Tăng sinh đơn dạng và thấm nhập lan tỏa các limphô bào kích thước lớn Hiện tượng: Phân bào Hình ảnh bệnh lý *: Limphôm không Hodgkin loại tế bào lớn ở amiđan
Câu 89: U QUÁI TRƯỞNG THÀNH CỦA BUỒNG TRỨNG Cấu trúc: Biểu bì (biểu mô lát tầng sừng hóa) / các phần phụ da: nang lông / tuyến bã Cấu trúc: Mô thần kinh đệm Cấu trúc: Xương / Sụn / Mô mỡ / Mô cơ trơn Cấu trúc: Biểu mô trụ có lông chuyển / Biểu mô tuyến tiết nhầy Hình ảnh bệnh lý *: U quái trưởng thành của buồng trứng
Câu 90: U TUYẾN ỐNG RUỘT GIÀ Cấu trúc: U dạng polýp có cuống Cấu trúc: Biểu mô tuyến ruột tăng sản – nghịch sản ở đầu polýp Cấu trúc: Niêm mạc ruột bình thường ở cuống polýp Cấu trúc: Lõi sợi của cuống polýp Cấu trúc: Các lớp của thành ruột bình thường quanh u (lớp niêm mạc, lớp dưới niêm, lớp cơ, lớp thanh mạc Hình ảnh bệnh lý *: U tuyến ống ruột già
Câu 91: CARCINÔM TUYẾN RUỘT GIÀ XÂM NHẬP Cấu trúc: Đám tuyến ung thư ruột già xâm nhập các lớp thành ruột (lớp niêm mạc / lớp cơ) Cấu trúc: Tuyến Lieberkühn bình thường Hiện tượng: Hoại tử trong lòng ống Hiện tượng: Phản ứng hóa sợi của mô đệm Hiện tượng: Phân bào bất thường Hình ảnh bệnh lý *: Carcinôm tuyến ruột già xâm nhập
Câu 92: CARCINÔM TUYẾN RUỘT GIÀ DI CĂN HẠCH Cấu trúc: Đám tế bào tuyến ung thư xếp cấu trúc dạng ống / dạng sàng Cấu trúc: Mô hạch bình thường (các nang limphô thứ cấp) Hiện tượng: Hoại tử u Hiện tượng: Phản ứng hóa sợi của mô đệm (quanh đám tế bào u) Hình ảnh bệnh lý *: Carcinôm tuyến ruột già di căn hạch
Câu 93: CARCINÔM TUYẾN RUỘT GIÀ DI CĂN PHỔI Cấu trúc: Đám tế bào tuyến ung thư xếp cấu trúc dạng ống / dạng sàng Cấu trúc: Mô phổi bình thường (các phế nang, đại thực bào phế nang) Hiện tượng: Hoại tử u Hiện tượng: Phản ứng hóa sợi của mô đệm (quanh đám tế bào u) Hình ảnh bệnh lý *: Carcinôm tuyến ruột già di căn phổi Lưu ý: Hình ảnh bệnh lý*: Chẩn đoán trên ảnh đại thể hoặc hình ảnh vi thể quan sát dưới kính hiển vi ở vật kính 4X KIỂM TRA CUỐI KỲ THỰC TẬP Hình thức kiểm tra: - Chạy trạm, mỗi trạm 30 giây, xem hình ảnh trên kính hiển vi và ảnh giấy. Nội dung kiểm tra: - Trả lời câu hỏi mục tiêu: TẾ BÀO GÌ ? CẤU TRÚC GÌ ? HIỆN TƯỢNG GÌ ? CHẤT GÌ ? HÌNH ẢNH BỆNH LÝ GÌ ? CHƯƠNG TRÌNH THỰC TẬP STT BUỔI – TIÊU BẢN SỐ TIẾT Buổi 1. Tiêu bản: Tăng sản cục tuyến tiền liệt Hạch nhiễm carbon Chuyển sản gai cổ tử cung Viêm ruột thừa cấp Viêm loét da mạn tính Viêm lao hạch Sẹo lồi Buổi 2. Kiểm tra thường xuyên 1 Ôn. Buổi 3. Tiêu bản: LSIL / HSIL Mô tụy lạc chỗ ở thành dạ dày U nhú da Carcinôm tế bào gai của da Sarcôm sợi bì lồi Limphôm không Hodgkin ở amiđan Buổi 4. Tiêu bản: U quái buồng trứng U tuyến ống ruột già Carcinôm tuyến ruột già xâm nhập Carcinôm tuyến ruột già di căn hạch Carcinôm tuyến ruột già di căn phổi Buổi 5. Kiểm tra thường xuyên 2. Tổng ôn. Buổi 6. Thi cuối kỳ thực tập

🤖 Trợ lý Điểm Danh

Hỏi bất kỳ điều gì về ứng dụng
Xin chào! 👋 Tôi có thể giúp gì cho bạn?
Gợi ý câu hỏi